Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của để tài Chương 2: Xây dựng website để tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ chương sinh trưởng và phát triển của thực vật cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIÁO DỤC 1. Trên thế giới Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực và CNTT đang là một phần cuộc sống của chúng ta. Mỹ là nước đầu tiên sử dụng Internet vào năm 1995 (Wiles và Bondi, 2002) và sau đó phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới.
Nhiều nước như Anh, Pháp, Mĩ, Nhật. đã xác định chiến lược phát triển ứng dụng CNTT, với mục tiêu giáo dục tin học phổ thông. Vì vậy, họ đã đầu tư xây dựng các trung tâm máy tính điện tử cho các viện nghiên cứu và cho các trường học. Việc đưa tin học vào trường phổ thông trên thế giới hình thành hai xu hướng: Một là đưa tin học vào nội dung dạy học, hai là sử dụng máy vi tính như công cụ dạy học.
Nhật Bản đã xác định vai trò của máy tính dùng để hỗ trợ quá trình giáo dục là rất quan trọng và đã đầu tư theo hướng này với tốc độ phát triển nhanh chóng. Ở các nước phương Tây, các trường đại học thường cạnh tranh với nhau trên cơ sở các chương trình riêng biệt của mình. Ví dụ, ở Mỹ, các khoa kinh tế và một số ngành khác hiện nay đang được xếp hạng trong các khảo sát của các tạp chí chuyên ngành. Các khoa này thiết kế chương trình học chính của mình theo cách tiếp cận hoàn toàn riêng biệt.
Ở các nước này, các trường đại học có thể thiết kế các chương trình cốt lõi theo triết lý giáo dục riêng, trong đó có tham khảo các tiêu chuẩn nghề nghiệp của các hiệp hội chuyên môn, nên các nội dung và ranh giới giữa các môn học rất mềm dẻo và có thể thay đổi cho phù hợp với mọi hoàn cảnh và môi trường giáo dục. Năm 1998, Bà Sandra Weiss, chủ tịch Hội đồng Khoa học hệ thống các trường đại học Mỹ đề nghị các giảng viên của trường đại học California thảo luận về việc kết nối các môn học lại với nhau nhằm tạo điều kiện cho SV có thể theo học một chương trình đào tạo được cấp bằng bởi nhiều trường hoặc nhiều khoa trong một trường. CNTT có thể làm được điều này. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các nước trong khối Liên minh Châu Âu đã dành ưu tiên số một cho cuộc cách mạng thông tin, xây dựng kế hoạch “Châu Âu trên đường hướng tới xã hội thông tin”.
Nhờ đó, đã góp phần làm cho nền kinh tế, khoa học và công nghệ của Châu Âu được xếp vào hàng đầu thế giới. Năm 1985, các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan, Malaysia, Xerilanca,… đã tổ chức hội thảo xây dựng các phần mềm dạy học ở Malaysia. Hàn Quốc cứ 3 năm có một lần huấn luyện về CNTT & TT, kĩ năng về việc sử dụng CNTT & TT trong dạy học được coi là một trong những điều kiện xét nâng bậc GV. Từ nửa sau của thế kỉ 20, sự phát triển của CNTT đã tiến những bước nhảy vọt, nhiều phần mềm ứng dụng trong dạy học đã lần lượt ra đời.
Phần mềm tin học là một chương trình cho máy tính để xử lý thông tin. Các phần mềm tin học được ứng dụng ngay từ khi có hệ thống phần cứng ra đời. Trong dạy học, các website dùng để tham khảo và phổ biến kiến thức được xây dựng khá công phu và có ứng dụng rộng rãi thông qua mạng Internet, như các trang Web: http://www.com; http://www.ed; http://www.Umich Hiện nay, đã có nhiều website hỗ trợ dạy và học các môn học ở mọi cấp học, trong đó về lĩnh vực dạy học sinh học có: - http://www.com Ở phần Biology bao gồm các kiến thức về phân loại thực vật, phân loại động vật, giải phẫu sinh lý, quá trình phát triển phôi sớm.org xây dựng một số cấu trúc, cơ chế của sự di truyền như phiên mã, dịch mã; cấu trúc nhiễm sắc thể. Nhìn chung, các website nước ngoài có giao diện sinh động, có âm thanh, màu sắc trung thực, nhưng bằng tiếng nước ngoài nên khả năng sử dụng cho GV và SV rất hạn chế.
Ngoài ra, nội dung các phần mềm đó chỉ phù hợp cho việc tham khảo, minh hoạ của GV khi cần thiết, không phù hợp với chương trình đào tạo bậc cao đẳng, đại học [38], [45], [46]… 1. Ở Việt Nam Từ những năm 60, nước ta bắt đầu sử dụng máy tính điện tử. Hội đồng chính phủ đã ra nghị quyết số 173- CP (1975) và 245- CP (1976) về tăng cường ứng dụng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com toán học và máy tính điện tử trong cả nước. Viện Công nghệ thông tin được thành lập và có những đề án nghiên cứu ứng dụng CNTT, đưa tin học vào nhà trường.
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về việc ứng dụng tin học trong dạy học các môn học: Năm 2002, Phạm Xuân Quế, Phạm Kim Chung đã thử nghiệm xây dựng trang web dạy học chương “dao động cơ học” ở chương trình Vật lí lớp 12 theo hướng phát triển hứng thú, tích cực, tự lực tham gia giải quyết vấn đề trong học tập của HS. Năm 2004, Nguyễn Thị Côi và cộng sự đã khai thác và ứng dụng tiện ích của phần mềm Microsoft powerpoint để thiết kế các dạng sơ đồ, biểu đồ, tạo các hiệu ứng hoạt hình sinh động trong dạy học Lịch Sử ở trường phổ thông [18]. Năm 2005, Hoàng Trọng Phú đã ứng dụng phần mềm Working model để thiết kế các thí nghiệm mô phỏng trong dạy Vật lí [26]. Lê Công Triêm đã giới thiệu một số website điển hình dùng cho việc khai thác tư liệu hố trợ cho việc thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học Vật lí.
Năm 2006, Tần Thị Trung Ninh và các cộng sự đã sử dụng phần mềm Macromedia Flash MX để minh họa một số cơ chế phản ứng hữu cơ trong dạy học hóa học. Tác giả cho rằng : Chỉ cần những minh họa đơn giản, có thể hiểu được cơ chế của một số phản ứng hữu cơ xảy ra như thế nào, điều mà rất khó có thể chứng minh được bằng thí nghiệm hóa học thông thường. Năm 2007, Nguyễn Mạnh Hưởng đã nghiên cứu thiết kế bài giảng “Cách mạng tháng Tám” với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft powerpoint. Theo tác giả, phần mềm này có vai trò, ý nghĩa to lớn trong việc giúp học sinh đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, hiểu đúng bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Tuy nhiên, các nghiên cứu đó vẫn chủ yếu tập trung vào áp dụng trong các quá trình dạy học giáp mặt nên khó lòng đáp ứng được những yêu cầu đổi mới. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi việc chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo tín chỉ đang đặt ra nhiều thách thức Trong lĩnh vực Sinh học có một số nghiên cứu: Năm 2002, Dương Tiến Sỹ đã sử dụng phần mềm Microsoft powerpoint thiết kế các trình phim dạy khái niệm môi trường và các nhân tố sinh thái. Tác 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giả thiết kế được một sơ đồ hoàn chỉnh bao gồm nhân tố sinh thái tác động vào đời sống cây xanh. Các câu hỏi được khắc họa bằng sơ đồ, hình ảnh, giúp học sinh tích cực suy nghĩ để giải quyết vấn đề mà GV đặt ra cho HS say mê, tích cực tìm tòi chiếm lĩnh những kiến thức mới và phương pháp chiếm lĩnh kiến thức đó [16], [28].
Năm 2005, đề tài “Xây dựng CD-Rom tư liệu phục vụ giảng dạy sinh học THPT" do TS Dương Tiến Sỹ làm chủ nhiệm đã đề xuất quy trình và xây dựng “Đĩa CD tư liệu phục vụ giảng dạy Sinh học lớp 10 THPT”, giải quyết được những khó khăn, vướng mắc của GV khi thiết kế bài giảng theo hướng ứng dụng CNTT. Năm 2005, đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ dạy học học phần Hệ thống động vật ở khoa Sinh – KTNN” của Nguyễn Phúc Chỉnh, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã trên cơ sở nghiên cứu về lược sử phân loại động vật và lựa chọn phần mềm Frontpage 2000 để kết nối các nhóm thông tin khác nhau trong trang web bằng chức năng Hyperlink. Khi người học cần nghiên cứu một loài nào đó chỉ cần click vào đặc điểm phân loại đã biết để tìm hiểu các thông tin có liên quan với nhau. Qua đó, giúp người học nhận biết đặc điểm các đối tượng một cách dễ dàng bởi các hình ảnh, các đoạn băng video đã được sưu tầm và xây dựng.
Đồng thời đã thiết kế được một số giáo án mẫu phục vụ giảng dạy của GV và tự học cho SV phần phân loại động vật. Năm 2006, Nguyễn Thị Phương đã nghiên cứu ứng dụng phần mềm FrontPage thiết kế giáo án điện tử trong giảng dạy phân loại động vật. Cũng năm 2006, Đồng Thị Bích Nga đã nghiên cứu ứng dụng phần mềm Flash trong giảng dạy Sinh học ở trường phổ thông. Tác giả đã thiết kế mô hình động để giảng dạy bài “Kỹ thuật di truyền” (Sinh học 12 - SGK hiện hành) và tổ hợp về kiến thức quang hợp về cây xanh (Sinh học 11- SGK mới).
Năm 2007, Nguyễn Văn Hồng đã nghiên cứu ứng dụng phần mềm ppt thiết kế giáo án hướng dẫn tự học trong dạy học Sinh học [18] Năm 2008, Nguyễn Văn Hiền - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã thử nghiệm rèn luyện kỹ năng về CNTT trong DH Sinh học cho sinh viên khoa Sinh học - KTNN qua hoạt động kết hợp giảng dạy trên lớp với việc trao đổi qua lớp học ảo trên địa chỉ http://nicenet. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mặc dù, đã có nhiều nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Sinh học. Tuy nhiên, các nghiên cứu về quy trình thiết kế và sử dụng website để tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ cho sinh viên CĐSP còn hạn chế. Đây là điều mà chúng tôi sẽ đề cập đề tài này.
Phương thức đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ 1. Phương thức đào tạo theo niên chế Đào tạo theo niên chế là phương thức đào tạo theo năm học.