CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THUC TIEN 1. Tổng quan về đề tài: Các dé tài về xây dựng tiền trình dạy học khám phá đã được đề cập và thực hiện trên chương trình phô thông 2006 bởi các tác giả sau đây: Tác giả Tran Thị Thu Trang (Trang, 2010) với bài nghiên cứu về mô hình day học khám phá IBL (2010) ứng dụng cho chương “sóng co” lớp 12. Trong bài nghiên cứu trên, tác giả đã cơ bản xây dựng được hệ thống cơ sở lí luận chặt chẽ cho phương pháp nay, cùng với đó. tác giả đã đề xuất được một số tiến trình day học và so sánh được ưu-nhược điểm của phương pháp day học khám phá so với các phương pháp dạy học truyền thông.
Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa đưa ra được một tiến trình chung cho mỗi một hoạt động khám phá. Tác giả Nguyễn Văn Chi (Chi, 2013) với bài nghiên cứu: Vận dụng phương pháp day học khám phá vào day học một số kiến thức chương “Cac định luật bảo toàn” vật lí 10 trung học phô thông” đã nêu ra các ứng dụng cũng như là mức độ khả thi của phương pháp dạy học khám phá khi áp dụng vào chương trình phô thông. Tuy nhiên, những trình bày của tác giả còn khá chung chung, chưa có sự cụ thé va cũng chưa đưa ra được tiến trình chung cho PPDHKP. Tác giả Lê Hải Mỹ Ngân (Ngân, 2013) trong luận văn thạc sĩ của mình đã nêu ra rất cụ thé và rõ ràng các đặc điểm và chu trình của hoạt động khám phá, tác giả đã làm tương đối sáng tỏ các vấn đề mà hai bài luận của hai tác giả trước đó còn mắc phải.
Tác giả cũng đưa ra được một tiến trình chung cho các hoạt động khám phá, tuy nhiên chưa làm rõ mỗi quan hệ giữa tiến trình đó với chu trình khám phá được nều ra. Trong bài luận lần này, tác giả sẽ thực hiện việc xây dựng tiến trình chung của PPDHKP cũng như là tiến trình chỉ tiết cho mỗi hoạt động khám phá trong nội dung: “Bao toàn động lượng” thuộc mạch nội dung “Động lượng” nam trong chương trình môn Vật Lí 2018. Cùng với đó, tác giả sẽ xây dựng các phương pháp đánh giá trong từng nội dung của các hoạt động khám phá được nêu ra. Ngoài ra, dù việc sử dụng các thí nghiệm trong vật lí rất được khuyến khích tuy nhiên do hạn chế về thời gian cũng như qui định về nội dung của chương trình 2006, vai trò của các thí nghiệm vật lí vẫn chưa được thê hiện rõ nét, việc ra đời của chương trình mới 2018 sẽ khắc phục điều này.
Các thí nghiệm vật lí sẽ đóng vai trò như cầu nối tư duy, trực quan hoá các kiến thức khoa học mà học sinh sẽ học từ đó làm quá trình khám phá của các em trở nên sâu sắc hơn. Đặc biệt trong nội đung “Bảo toàn động lượng”, khi các kiến thức nếu chỉ được giới thiệu bởi lí thuyết sẽ khó cho học sinh hiéu và nam bắt, nhưng néu có thé kèm thêm với thí nghiệm trực quan, sẽ giúp cho học sinh có hiểu biết sâu sắc hơn về kiến thức đã học đồng thời có cơ hội ứng dụng các kiến thức đó dé giải thích cho thí nghiệm. Thuyết kiến tạo: Trước hết, ta can phải hiểu nghĩa của từ “kién tạo”. Trong từ điển tiếng Việt (Phê, 1988), “Kién tạo” được định nghĩa là xây dựng nên, tạo nên.
Con trong giáo dục, “kiến tạo” có nghĩa là xây dựng nên các kiến thức, tri thức mới dựa trên những cái đã biết. Theo Jean Piaget (Brau, 2020), kiến thức được xây dựng và lĩnh hội bởi người học thông qua sự tương tác giữa kinh nghiệm và các ý tường của họ. Đối với ông, người học chính là trung tâm của việc học. Ông dé xuất sự kiến tạo kiến thức của người học gồm 2 quá trình: - Đông hóa: là quá trình người học định hình lại thé giới quan của họ dua trên kinh nghiệm mới thu thập được.
- Điều ứng: là quá trình người học tiếp nhận các đặc điểm về tâm lí xã hội. Theo Lev Vygotsky (Brau, 2020), khi nghiên cứu về các khía cạnh xã hội của quá trình kiến tạo, ông đề xuất rằng người học sẽ có thê phát triển tốt nhất thông qua quá trình tương tác, làm việc với những người học khác, từ đó tạo nên một môi trưởng chia sẻ giữa những người học với nhau. Ngoài ra, theo ông, văn hóa cũng đóng một vai trò rất lớn trong quá trình nhận thức của người học. Các công trình của ông cũng nêu ra vai trò chỉ đạo của người hướng dẫn (GV) đến với người học (HS) và khái niệm vẻ vùng phát trién phù hợp.
Vùng phát triến —————=— ⁄ — phù hợp / a HỌC SINH CÓ THE TỰ LAM } — HỌC SINH CÓ THE LAM VỚI SỰ GIÚP ĐỠ ` ⁄ ¬——__ __ _— _. NGOÀI KHẢ NANG CUA HỌC SINH Hình 1. Vừng phat triển phù hợp Theo Tran Kiều (Thuý, 2015), ông định nghĩa thuyết kiến tạo là: “Khái niệm lí thuyết kiến tạo có nguồn gốc từ một quan niệm của Piaget vẻ cầu trúc nhận thức lay trung tâm là các khái niệm đồng hóa - điều ứng. Sự điều ứng xuất hiện khi người học sử dụng cái đã biết đề giải quyết một tình huống mới thất bại và trở nên có thê phát hiện ra những biện pháp mới đẻ giải quyết những tình huống nay.
Còn sự đồng hóa xuất hiện như một cơ chế giữ gìn cái đã biết và cho phép người học dựa trên cái đã biết dé giải quyết các tình huồng mới." Tác giả Nguyễn Văn Cường và Bernd Merier (Cường, 2017) đã tông kết và rút ra rằng tư tưởng cốt lõi của thuyết kiến tạo 1a việc người học chính là người đóng vai trò trung tâm của việc học, là chủ thê hành động. Người học đóng vai trò tích cực kiến tạo kiến thức mới và thế giới sẽ được phản ánh lại dựa trên các kiến thức mới đó của họ. Cái mà người học học được sẽ phụ thuộc vào kinh nghiệm và kiến thức đã có cùng với tình hudng thực tế mà họ phải đối mặt. Người học sẽ tự học theo lí trí riêng, có cơ hội đề tự tìm hiểu, khám phá.
Ngoài ra, hai tác giả cũng đúc kết một số quan niệm chính sau đây về thuyết kiến tạo: - Tri thức mang tính chủ quan, nó xuất hiện thông qua các quá trình chủ thé tự nhận thức và tự cấu trúc vào não của mình. - Nhắn mạnh vai trò nhận thức của chủ thé trong việc giải thích và kiến tạo kiến thức. Điều này phụ thuộc vào lí thuyết định hướng chủ thẻ. - Su tô chức các hoạt động cho người học tương tác với các đôi tượng học tập là cần thiết, từ đó hỗ trợ người học ghi nhận những thông tin mới vào cau trúc tư duy sẵn có, thông qua sự điều chinh của chính họ.
- Viéc học là việc khám phá, giải thích và tái cấu trúc tri thức. Tóm lại, thuyết kiến tạo là lí thuyết đặt ra trong giáo dục mà ở đó, người học là trung tâm của việc học. Phát triên nhận thức của người học thông qua các quá trình hoạt động tập thé mà ở đó người học đóng vai trò hoạt động tích cực dé chiếm lĩnh và lĩnh hội tri thức. Trong lí thuyết này, sự có mặt của người hướng dẫn là giúp đỡ, hỗ trợ người học đạt được tri thức.
Đôi nét về chương trình Giáo Duc Pho Thông tổng thé 2018 và Chương trình giáo dục phổ thông môn Vật Li 2018: 1. Chương trình GDPT tổng thể 2018: Được ban hành qua thông tư 32 của bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình giáo dục phô thông tông thé (Tạo, 2018a) hướng đến đạt được mục tiêu: “đôi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phô thông nhằm tạo chuyên biến căn bản, toàn điện về chất lượng và hiệu quả của chương trình giáo dục phô thông; kết hợp day chữ, day người và định hướng nghé nghiệp: góp phan chuyền nên giáo dục nặng nề về truyền thụ kiến thức sang nẻn giáo dục phát triển toàn điện cả về phầm chat và năng lực, hài hòa đức, tri, thé, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.” 10 Với mục tiêu trên, chương trình phô thông 2018 đã thay thế chuẩn kiến thức, kĩ năng bằng chuẩn phát trién pham chat, năng lực thông qua các yêu cau can đạt đối với từng chủ dé bai học. Bỏ qui định chỉ tiết về thời gian cho từng kiến thức, chi qui định về giới hạn thời gian cho từng mạch nội dung, điều này tạo ra sự thuận tiện cho GV và HS phát huy tính linh động vào sáng tạo trong hoạt động dạy và học. Đối với chương trình 2018, các chuẩn về phẩm chất chủ yếu va năng lực chung, năng lực thành phần đều được quy định cụ thể trong yêu cầu cần đạt của mỗi bộ môn.
Các phâm chất chủ yếu: - Yéu nước - Nhân ái - Chăm chỉ - Trung thực - Trách nhiệm Vẻ năng lực: - Tự chủ vả tự học - Giao tiếp và hợp tác - Giải quyết van dé và sáng tạo Cùng với đó là các năng lực đặc thù tương ứng với từng bộ môn, đặc biệt trong khoá luận lần này, tác giả sẽ đi sâu vào nghiên cứu vẻ năng lực Vật Lí. Chương trình giáo dục phô thông môn Vật Lí: Chương trình giáo dục phô thông môn Vật Lí (Tạo, 2018b) được ban hành nhằm phát trién cho HS các pham chat chủ yếu và năng lực chung cũng như là nang lực đặc thù môn Vật Lí đáp ứng yêu cau, mục tiêu của chương trình giáo dục phô thông tông thé. 11 Ngoài các năng lực chung và phẩm chất chủ yếu đã được quy định trong chương trình tông thế, các thành tô của năng lực đặc thù của bộ môn Vật Lí sẽ được phát triển sau quá trình học tập: - Nhận thức vật lí: HS nhận thức được về một số kiến thức, ki nang phô thông cốt lõi về mô hình hệ vật lí, nang lượng và sóng, lực và trường, nhận biết được một số ngành nghề liên quan đến bộ môn Vật Lí. - Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí: tìm hiểu được một số quá trình, hiện tượng vật lí đơn giản, gần gũi trong giới tự nhiên theo đúng tiến trình, sử dụng các chứng cứ khoa học đề kiểm tra các dự đoán, lí giải các chứng cứ và rút ra kết luận.
- Van dụng kiến thức, ki năng đã học: vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học trong một số trường hợp đơn giản, bước đầu sử dụng toán học như một ngôn ngữ, công cụ dé giải quyết van dé.