Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1.1 Khái niệm và đặc điểm TĐKT 1.1 Khái niệm TĐKT: Quan niệm về TĐKT hiện nay chưa có một thuật ngữ chung mà có sự thay đổi và khác nhau theo thời gian. Mỗi quốc gia thường đưa ra quan niệm về TĐKT cho phù hợp với điều kiện cụ thể và theo mục tiêu phát triển kinh tế của quốc gia mình. Tuy nhiên có thể tổng quát lại như sau: TĐKT là một tổ hợp các doanh nghiệp bao gồm công ty mẹ, các công ty thành viên (bao gồm công ty con và các công ty liên kết khác) có quan hệ với nhau về vốn, đầu tư, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo và nghiên cứu, hoạt động trong trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo văn bản hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp năm 2005 thì TĐKT được quan niệm đó là nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ- công ty con.2 Đặc điểm của TĐKT: v Thứ nhất, TĐKT có quy mô lớn về vốn, lao động và doanh thu Nguồn lực của TĐKT bao gồm nguồn lực của các doanh nghiệp thành viên và nguồn lực nội tại từ kết quả sản xuất kinh doanh được tích lũy.
TĐKT vừa nâng cao trình độ xã hội hóa và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, vừa tạo năng lực cạnh tranh mạnh hơn so với từng doanh nghiệp đơn lẻ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Về vốn: nguồn vốn được tập trung từ các nguồn khác nhau như: do chính phủ cấp vốn ban đầu dưới dạng đầu tư trực tiếp hoặc góp vốn cổ phần, cho vay ưu đãi của chính phủ, hoặc tự bản thân doanh nghiệp tích lũy từ phần lợi nhuận tạo ra, hoặc từ việc sáp nhập, hợp nhất các doanh nghiệp lớn, hoặc thu hút vốn qua các dự án liên doanh, đầu tư nước ngoài, liên kết, phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay vốn trong nước và nước ngoài. Về lao động: lực lượng lao động tại các tập đoàn không ngừng lớn mạnh về cả số lượng lẫn chất lượng do việc tuyển chọn, đào tạo tay nghề đạt chuyên môn cao nhằm phục vụ cho các ngành công nghiệp thiên về kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Về doanh thu: ta thấy rằng với số vốn được tích tụ không ngừng, lực lượng lao động lớn mạnh, tập đoàn có đủ điều kiện để tăng năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất Từ đó tạo được doanh thu lớn và có khả năng chi phối, cạnh tranh trên thị trường, xây dựng các điểm sản xuất, hợp lý hóa và chuyên môn hóa các khâu khác nhau trong quá trình sản xuất để tăng số lượng sản xuất đồng thời hạ thấp giá thành.
v Thứ hai, TĐKT thường hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực: Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, việc đầu tư vào một lĩnh vực gây sự bất lợi vì mức độ rủi ro cao đối với doanh nghệp, có thể do sự thay đổi của chính sách vĩ mô, thay đổi cơ cấu ngành hay sự thay đổi của nhu cầu thị trường. Vì thế, để đảm bảo hoạt động kinh doanh luôn đạt hiệu quả với mức độ rủi ro có thể chấp nhận được, các tập đoàn thường thực hiện chiến lược kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó đều có ngành chủ lực được định hướng hay lĩnh vực đầu tư mũi nhọn. Đặc điểm này nhằm cân đối trên danh mục đầu tư. Bằng cách tham gia vào một số lĩnh vực kinh doanh mới, các công ty muốn tìm kiếm các lĩnh vực có mức sinh lợi cao và dễ dàng thay đổi, cắt giảm bớt những ngành đầu tư kém hiệu quả.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Đồng thời, TĐKT có xu hướng mở rộng phạm vi hoạt động ra các quốc gia khác nhau ngoài vùng lãnh thổ để khai thác các lợi thế của yếu tố đầu vào cấu thành sản phẩm hoặc khai thác thêm thị trường tiêu thụ sản phẩm dịch vụ, gia tăng doanh thu. v Thứ ba, về cấu trúc TĐKT là một tổ hợp các công ty bao gồm công ty mẹ và các công ty con, công ty cháu. Công ty mẹ đóng vai trò tạo nên bộ mặt cho tập đoàn bởi uy tín tạo lập trong quá trình hoạt động và khả năng chi phối đối với các doanh nghiệp thành viên, trong nhiều trường hợp công ty mẹ được sử dụng làm tên gọi chung cho chính tập đoàn. Các doanh nghiệp thành viên đều là những pháp nhân độc lập, hoạt động theo quy định của pháp luật nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau về phương diện công nghệ, thị trường hay vốn.2 Lịch sử hình thành của TĐKT và mối liên kết trong TĐKT: Từ những năm cuối thế kỷ 19, các TĐKT với những hình thức sơ khai nhất đã dần xuất hiện và sau đó lan rộng ra trên phạm vi toàn cầu.
Nó được hình thành cùng với sự phát triển của nền kinh tế các nước trên thế giới khi mà trình độ chuyên môn hóa, hợp tác hóa trong kinh doanh cũng như trong phát triển khoa học công nghệ được nâng lên một mức độ nhất định. TĐKT thực ra là một cơ cấu sở hữu, tổ chức kinh doanh đa dạng, có quy mô lớn, vừa có chức năng sản xuất kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường khả năng tích tụ, tập trung cao nhất các nguồn lực ban đầu (bao gồm vốn, công nghệ, sức lao động,.) để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và tối đa hóa lợi nhuận. Các TĐKT là tổ hợp hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con. Công ty mẹ nắm quyền chi phối các đơn vị thành viên (công ty con) về nguồn lực ban đầu, chiến lược phát triển và hoạt động tại nhiều ngành, nhiều lĩnh vực ở nhiều vùng lãnh thổ khác nhau.
Các công ty cùng một tập đoàn có thể phối hợp hoạt động của mình theo nhiều kiểu khác nhau như liên kết dọc, liên kết ngang hay liên kết hỗn hợp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Liên kết dọc: đó là sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong một dây chuyền công nghệ sản xuất, trong đó mỗi doanh nghiệp đảm nhận từng công đoạn nhất định. Quan hệ giữa các thành viên chủ yếu theo quy trình công nghệ và cung ứng sản phẩm cho nhau. Mối liên kết này hình thành từ việc những doanh nghiệp sản xuất cùng ngành, tập hợp và liên kết lại để có thể sản xuất ra sản phẩm hàng loạt nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Từ đây phát sinh việc cần thiết phải có các công ty chuyên cung ứng các yếu tố đầu với số lượng lớn và giải quyết việc tiêu thụ sản phẩm sản xuất đầu ra. Như vậy, công ty sản xuất cần phải mua lại hay thành lập mới các “công ty con” đảm nhận các chức năng chuyên môn hóa này. Loại liên kết này vẫn còn phổ biến trong giai đoạn hiện nay. Trên thế giới, có nhiều tập đoàn lớn thuộc dạng này như: Concern, Conglomerate, Keiretsu, Chaebol, … Chúng hoạt động có hiệu quả cao và bành trướng hoạt động sản xuất kinh doanh sang hầu hết các nước trên thế giới.
Liên kết ngang: đó là liên kết giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, có quan hệ chặt chẽ với nhau về kinh tế- kỹ thuật, thị trường tiêu thụ, xuất nhập khẩu và xu hướng chung là các doanh nghiệp có ưu thế sẽ nắm vai trò chủ đạo. Tập đoàn dạng này bao gồm: Cartel, Syndicate, Keiretsu ,… Hình thức này không còn là xu thế phổ biến trong hiện nay tại các nước tư bản phát triển. Một mặt vì nhu cầu thị trường hết sức đa dạng và biến đổi nhanh chóng nên nó khó có thể mang lại hiệu quả cao; mặt khác khi nguồn vốn tập trung vào một ngành dễ dẫn đến rủi ro cao và cuối cùng là sự ngăn cấm, hạn chế của các Chính phủ vì hình thức này dễ tạo nên sự độc quyền, đi ngược lại với nguyên tắc cơ bản của thị trường. Liên kết hỗn hợp: đó là hình thức được xem là kết hợp của hình thức kiên kết ngang và liên kết dọc.
Đây là dạng liên kết giữa các công ty hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, thậm chí mối liên kết rất nhỏ hoặc không có mối liên kết trực tiếp với nhau. Có thể thấy rằng, mô hình tập đoàn này là sự liên kết đa ngành, đa lĩnh vực và nó trở thành xu hướng chính hiện nay. Tập đoàn sẽ có cơ cấu gồm một ngân hàng hoặc một công ty tài chính lớn, một công ty thương mại và các công ty sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 xuất công nghiệp. Hoạt động tài chính ngân hàng là bộ phận rất quan trọng mang tính xuyên suốt, bao trùm và không thể tách rời trong cơ cấu kinh doanh của các TĐKT lớn.3 Nguyên nhân ra đời của các TĐKT trên thế giới: 1.1 Sự liên kết nhằm đa dạng hóa hoạt động của các tập đoàn: Đây là động cơ chủ yếu của sự liên kết giữa các công ty thành viên với nhau.
Những lợi ích có được khi các doanh nghiệp thực hiện liên kết ngang, liên kết dọc hay liên kết hỗn hợp chính là việc giảm đi hoặc loại trừ một sự trùng lặp không cần thiết các chi phí cố định, dẫn đến sự gia tăng hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Hiệu quả này có được là do các công ty thành viên phối hợp với nhau; vì vậy, hiệu quả tổng cộng của nó sẽ có một giá trị cao hơn giá trị được kết hợp lại từ hai công ty riêng lẻ. Hơn thế nữa lợi ích mang lại từ hợp nhất là khả năng đa dạng hóa các hoạt động, qua đó giảm được các rủi ro. Các công ty trong một tập đoàn có thể nắm bắt thị trường một cách nhanh chóng để chuyển hướng sang kinh doanh một sản phẩm khác để giảm thiểu hoặc phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Sự thay đổi thường xuyên các phương pháp sản xuất, nhu cầu hoàn thiện sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất để suy trì sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt là nguyên nhân cơ bản tạo nên sự kết hợp giữa các doanh nghiệp.