phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chƣơng: Chƣơng 1: Những điều kiện để thực hiện chƣơng trình xây dựng nông thôn mới ở Phú Thọ Chƣơng 2: Quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ từ năm 2008 đến năm 2014 Chƣơng 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm chỉ đạo 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở PHÚ THỌ 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội tỉnh Phú Thọ 1. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Phú Thọ là tỉnh miền núi phía Bắc, nằm ở vị trí giữa 20055’- 21043’ vĩ độ Bắc và 1050 kinh độ Đông, phía Bắc giáp với tỉnh Tuyên Quang và Yên Bái, phía Nam giáp Hòa Bình, phía Đông giáp Vĩnh Phúc và Hà Nội, phiá Tây giáp với tỉnh Sơn La. Tỉnh Phú Thọ tái lập ( 1/1/1997) có diện tích tự nhiên 3.465 km2 dân số 1.900 ngƣời, mật độ trung bình 373 ngƣời/km2 [2, tr.
Toàn tỉnh có 13 huyện, thành, thị (thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, 11 huyện: Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thủy, Hạ Hòa, Thanh Ba, Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù Ninh), hơn 270 xã, phƣờng, thị trấn. Bao gồm 21 dân tộc anh em sinh sống, nhƣ dân tộc Mƣờng, dân tộc Dao, ngƣời Cao Lan, ngƣời Kinh (chiếm đa số với hơn 1,1 triệu ngƣời). Phú Thọ cách Hà Nội 80 km, là cửa ngõ phía tây bắc của thủ đô, với vị trí “ngã ba sông” (nằm ở nơi hợp lƣu của ba sông: sông Lô, sông Thao và sông Đà), và là địa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc, bởi vậy Phú Thọ là cầu nối của các tỉnh đồng bằng sông Hồng với các tỉnh miền núi Tây Bắc và Đông Bắc. Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của tỉnh, đồng thời là một trong năm trung tâm lớn của vùng miền núi phía Bắc, có các tuyến trục giao thông quan trọng chạy qua nhƣ Quốc lộ số 2 (chạy từ Hà Nội qua Việt Trì đi Tuyên Quang – Hà Giang), đặc biệt là tuyến đƣờng cao tốc Hà Nội – Việt Trì – Lào Cai sang Vân Nam (Trung Quốc).
Ngoài ra, với hệ thống đƣờng sông, đƣờng sắt các tỉnh phía Tây Bắc đều quy tụ về Phú Thọ rồi mới đi Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố khác trong cả nƣớc. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để tỉnh Phú Thọ giao lƣu, hợp tác kinh tế với bên ngoài. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Địa hình Phú Thọ có địa hình rất đặc biệt: Là một tỉnh miền núi, nhƣng địa hình vừa có tính chất miền núi, trung du, lại vừa có tính chất đồng bằng. Đoạn sông Hồng chảy qua Phú Thọ (sông Thao) đã chia Phú Thọ thành hai tiểu vùng có những đặc điểm khác nhau và hình thành nên địa hình mang ba tính chất trên.
Tiểu vùng miền núi: chiếm tới hai phần ba diện tích toàn tỉnh, gồm đất đai các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Thanh Thủy, Tam Nông, Sông Thao và một phần huyện Hạ Hòa. Vùng chủ yếu là đồi núi nên rất có tiềm năng để phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại. Tiểu vùng trung du đồng bằng: bao gồm các huyện Đoan Hùng, một phần đất huyện Hạ Hòa, Thanh Ba, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thủy, thành phố Việt Trì, và thị xã Phú Thọ. Địa hình có nhiều gò đồi nối tiếp nhau, bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, sông Lô.
Nhờ nằm ven sông Hồng, sông Lô nên miền này hàng năm đƣợc phù sa bồi đắp, đất tốt rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp với nhiều cánh đồng lớn, vựa lúa lớn của tỉnh nhƣ để trồng các loại cây công nghiệp, phát triển cây lƣơng thực và chăn nuôi Khí hậu Phú Thọ nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông khô và lạnh. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, lƣợng mƣa trung bình khoảng 1600 – 1800 mm/năm. Độ ẩm trung bình khoảng 85% - 87%. Nhìn chung, khí hậu Phú Thọ thuận lợi cho việc sinh trƣởng và phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, các loại cây ngắn ngày, cây công nghiệp dài ngày, chăn nuôi gia súc, có khả năng cho năng suất và chất lƣợng cao.
Hạn chế nổi bật của khí hậu Phú Thọ là vùng dễ bị ngập úng vào mùa mƣa và hạn vào mùa khô. Để khắc phục hạn chế này cần giải quyết tốt về thủy lợi và bố trí hệ thống cây trồng phù hợp với từng vùng sinh thái, cần phải tìm ra biện pháp 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hữu hiệu về vấn đề thủy lợi, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Điều đó cũng tác động không nhỏ đến xây dựng nông thôn vì nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn gắn liền với nhau, tác động lẫn nhau cùng phát triển. Hệ thống sông ngòi Ngoài tác động của khí hậu, địa hình, tỉnh Phú Thọ với một hệ thống sông ngòi, đầm hồ phong phú cũng góp phần thúc đẩy nông nghiệp trong tỉnh phát triển.
Các đoạn sông lớn chảy qua tỉnh nhƣ sông Hồng (sông Thao), sông Lô hay sông Đà đã bồi đắp phù sa màu mỡ cho các cánh đồng ven sông, đồng thời tạo điều kiện giao lƣu đƣờng thủy giữa các vùng trong tỉnh và các tỉnh bạn. Phú Thọ có gần 70 con ngòi lớn nhỏ, nằm rải rác khắp các huyện, điển hình có ngòi Lao (Hạ Hòa), ngòi Me (Sông Thao), ngòi Lát (Thanh Thủy). Ngoài ra, còn có nhiều đầm hồ thiên tạo nhƣ: đầm Ao Châu, đầm Chú, đầm Lãi, đầm Năng (Hạ Hòa), đầm Chính Công (Thanh Ba), đầm Dị Nậu, Liên Từ (Cẩm Khê). Các đầm hồ này vừa có tác dụng tích nƣớc phục vụ cho thủy lợi, lại vừa có tác dụng điều hòa khí hậu.
Đó là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc tự nhiên từ nhiều nguồn địa lý khác nhau, tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp, du lịch, và đó cũng là tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi và góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Tài nguyên đất Bên cạnh những thuận lợi về vị trí địa lý, về những đặc điểm tự nhiên riêng có, Phú Thọ còn có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp, điển hình là nguồn tài nguyên đất. Hiện nay, tỉnh mới sử dụng đƣợc khoảng 54,8% tiềm năng đất nông – lâm nghiệp, đất chƣa sử dụng còn 81,2 nghìn ha, trong đó đồi núi có 57,86 nghìn ha. Theo tài liệu thổ nhƣỡng trƣớc đây và kết quả điều tra bổ sung những năm gần đây, Phú Thọ có 13 loại đất nằm trong 7 nhóm đất: Đất phù sa, đất lầy, đát xám, đất đỏ vàng, đất mùn, đất thung lũng, đất xói mòn trơ sỏi đá.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Diện tích tự nhiên của khu vực nông thôn ở tỉnh là 342.591,52 ha, chiếm 96,98% diện tích tự nhiên toàn tỉnh (bao gồm cả xã Tân Đức). Trong đó: chủ yếu là đất nông nghiệp (chiếm 77,79% tổng diện tích tự nhiên), đất phi nông nghiệp chiếm 13,57% tổng diện tích tự nhiên và đất chƣa sử dụng chiếm 8,67% tổng diện tích tự nhiên [70, tr. Cơ cấu sử dụng đất chung của vùng đã có sự chuyển dịch theo hƣớng hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của vùng trong những năm qua. Diện tích đất chƣa sử dụng giảm dần, tỷ lệ đất phi nông nghiệp trong cơ cấu sử dụng đất tăng là những nhân tố tích cực trong việc phát triển kinh tế xã hội của vùng.
Sau hơn mƣời năm thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng nói chung và cơ cấu sử dụng đất nói riêng, thu nhập của ngƣời dân đƣợc tăng lên đáng kể, an ninh lƣơng thực đƣợc đảm bảo. Cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển khá, bộ mặt nông thôn ngày một khởi sắc. Kinh tế, văn hóa - xã hội tỉnh Phú Thọ trước năm 2008 Sau khi tái lập tỉnh (1/1/1997), theo chủ trƣơng đổi mới toàn diện của Đảng, trong thời kỳ CNH, HĐH đất nƣớc, Phú Thọ đã ra sức phấn đấu, kiên trì vƣợt qua mọi khó khăn, thách thức để nhằm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đƣa Phú Thọ phát triển sánh cùng với các tỉnh bạn trong khu vực. Tăng trưởng kinh tế Tổng GDP của tỉnh năm 2007 (theo giá năm 2000) đạt 5.469 tỷ đồng, tăng 10,84% so với thực hiện năm 2006 (cả nƣớc tăng 8,5%).
Trong đó: Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 4,3%, Công nghiệp- xây dựng tăng 13,7% và Dịch vụ tăng 12,4% [69, tr. Trong những năm qua kinh tế của tỉnh có sự phát triển. Tổng GDP đều tăng qua các năm. Tổng sản phẩm bình quân đầu ngƣời cũng tăng lên.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trƣởng kinh tế còn khá chậm. GDP bình quân đầu ngƣời tăng chƣa đáng kể. Điều đó phản ánh kinh tế của Phú Thọ phát triển với tốc độ trung bình. Riêng ngành nông, lâm thủy sản cần đƣợc đầu tƣ để trở thành “bệ đỡ” cho nền kinh tế của tỉnh trong thời gian tới.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhìn chung, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hƣớng tiến bộ: tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, tuy nhiên tốc độ tăng vẫn còn chậm. Tốc độ tăng của ngành công nghiệp không đạt kế hoạch, giá của hầu hết các vật tƣ và nguyên liệu đầu vào của sản xuất đều tăng cao làm chi phí sản xuất tăng, dẫn đến tỷ lệ đóng góp vào GDP giảm. Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế năm 2007: tỷ trọng ngành nông nghiệp đạt 26,1%, ngành công nghiệp – xây dựng đạt 38,8%, và ngành dịch vụ đạt 35,1% [69, tr. Sản xuất công nghiệp Bảng 1.1: Giá trị sản xuất công nghiệp của Phú Thọ (2005 – 2007) Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Giá trị sản xuất (giá 1994) Tỷ đồng 6.874 - Địa phƣơng ” 378 363 265 2.Ngoài quốc doanh ” 1458 1.302 (Nguồn:Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Phú Thọ giai đoạn 2011- 2015 – UBND tỉnh Phú Thọ ) Năm 2007, ngành công nghiệp tỉnh có tổng giá trị sản xuất hơn 8.174 tỷ đồng, tăng lên 15,6% so với năm 2006 (bảng 1.
Tốc độ phát triển ngành công nghiệp của tỉnh đạt khá, cao hơn so với một số tỉnh lân cận nhƣ Yên Bái, Sơn La… Từ năm 2001 đến năm 2007, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ phát triển khá nhanh.