Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp “Đảng lãnh đạo xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân thời kỳ 1945 - 1946” được thực hiện bởi sinh viên Trần Thị Lệ Thanh dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Như Cương tại Khoa Giáo dục - Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2005).

Về lý do chọn đề tài, tác giả khẳng định Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra một trang sử mới, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ lên làm chủ đất nước, đồng thời xác lập nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" của giai đoạn 1945 - 1946, việc thiết kế, xây dựng và bảo vệ bộ máy nhà nước non trẻ dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tạo tiền đề cho những thắng lợi của 30 năm kháng chiến tiếp theo. Trong bối cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam đẩy mạnh công cuộc đổi mới, ban hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII (ngày 16/01/1995) về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nhà nước và cải cách hành chính, cùng các định hướng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, việc tổng kết lịch sử xây dựng nhà nước giai đoạn 1945 - 1946 mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua năm nội dung:

  1. Làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công cuộc xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân thời kỳ 1945 - 1946.
  2. Góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ nhà nước xã hội chủ nghĩa, phản bác các quan điểm chính trị cơ hội, phản động của các thế lực thù địch trong và ngoài nước.
  3. Bổ sung nguồn tư liệu tham khảo phục vụ học tập và nghiên cứu cho sinh viên trong khoa.
  4. Trình bày có hệ thống những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân thời kỳ 1945 - 1946.
  5. Góp phần tìm hiểu bản chất nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, bước đầu đúc kết một số bài học kinh nghiệm đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và củng cố nhà nước dân chủ nhân dân. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong mốc thời gian từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến cuối năm 1946, trên phạm vi toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam từ cấp trung ương đến địa phương. Về cấu trúc văn bản, công trình có dung lượng 55 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính gồm 2 chương và 4 tiết.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận mác-xít và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật:

  • Cơ sở lý luận: Các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước chuyên chính vô sản, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân, cùng các văn kiện chỉ đạo của Đảng như Cương lĩnh năm 1930, Nghị quyết Quốc dân Đại hội Tân Trào (tháng 8/1945), Tuyên ngôn Độc lập (ngày 02/09/1945), Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc (ngày 25/11/1945) và Hiến pháp năm 1946.
  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm chủ đạo, kết hợp chặt chẽ với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và đánh giá tư liệu.
  • Nguồn dữ liệu: Tác phẩm Hồ Chí Minh toàn tập; các văn kiện Đảng toàn tập; các công trình nghiên cứu chuyên khảo và hồi ký lịch sử của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước như Phạm Văn Đồng (Nhà nước dân chủ nhân dân, 1964; Nhà nước dân chủ nhân dân và sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, 1961), Lê Duẩn (Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng..., 1972), Đỗ Mười (Xây dựng nhà nước của nhân dân..., 1991), Võ Nguyên Giáp (Những năm tháng không thể nào quên, 1975), Nguyễn Kiến Giang (Việt Nam năm đầu sau cách mạng tháng Tám); các nguồn tư liệu được khai thác tại Thư viện Khoa học Tổng hợp và Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Chủ trương xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân trong thời kỳ 1945 - 1946

Chương 1 tập trung phân tích bối cảnh lịch sử và hệ thống quan điểm lý luận chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh:

1. Tình hình nước ta trong năm đầu sau cách mạng Tháng Tám năm 1945:

  • Những thuận lợi to lớn: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trên danh nghĩa một nước nằm trong phe Đồng minh chống phát xít; nhân dân thoát khỏi ách nô lệ, sẵn sàng cống hiến bảo vệ chính quyền; Đảng Cộng sản 15 năm tuổi có bề dày kinh nghiệm và uy tín lãnh đạo; Mặt trận Việt Minh và sau đó là Hội Liên Việt quy tụ sức mạnh đại đoàn kết; lực lượng công an nhân dân thành lập ngày 19/08/1945 cùng quân đội cách mạng được kiện toàn nhanh chóng; phong trào giải phóng dân tộc và hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới đang phát triển.
  • Những thách thức đối với nhà nước cách mạng:
    • Kinh tế: Nền kinh tế lạc hậu, kiệt quệ sau chiến tranh; nạn đói đầu năm 1945 làm hơn hai triệu người chết đói, nguy cơ đứt gãy sản xuất tiếp diễn; gánh nặng nuôi hơn 20 vạn quân Tưởng và hàng vạn quân Nhật; ngân khố trung ương chỉ còn trên 1 triệu đồng (hơn một nửa là tiền rách không lưu thông được), ngân hàng Đông Dương bị tư bản Pháp kiểm soát; quân Tưởng tung tiền Quan kim, Quốc tệ gây lạm phát; việc xóa bỏ thuế thân làm giảm mạnh nguồn thu.
    • Văn hóa - xã hội: Trên 90% dân số mù chữ do hậu quả chính sách ngu dân; các tệ nạn xã hội như nghiện hút thuốc phiện, cờ bạc, mê tín dị đoan hoành hành; hệ thống giáo dục cũ mang nội dung thực dân phản động chưa thể cải tổ ngay.
    • Chính trị: Sự chống phá của các tổ chức phản động như Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Việt Cách) chiếm đóng Vĩnh Yên, Móng Cái, Ngũ Xá; các đảng phái Đại Việt Quốc xã, Đại Việt Duy tân, Đại Việt Quốc gia Liên minh, Việt Nam Phục quốc; ở miền Nam, thực dân Pháp nổ súng tái xâm lược ngày 23/09/1945, thành lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (ngày 04/02/1946) và chính phủ bù nhìn "Cộng hòa Nam Kỳ tự trị" do Nguyễn Văn Thinh đứng đầu; nhóm Tờrốtkít ra báo Tranh đấu kích động đình công, chia rẽ khối đoàn kết; chính quyền cơ sở còn non trẻ, lúng túng, xuất hiện xung đột cục bộ giữa các tổ chức.
    • Quân sự: Miền Bắc có 20 vạn quân Tưởng do Lư Hán chỉ huy kéo vào theo thỏa thuận Hội nghị Pốtxđam (mượn danh nghĩa giải giáp quân Nhật nhưng mang dã tâm "diệt Cộng, cầm Hồ"); miền Nam có 1 vạn quân Anh do Thiếu tướng Douglas D. Gracey chỉ huy tiếp tay cho quân Pháp; chính quyền Truman tại Mỹ chuyển hướng công khai ủng hộ thực dân Pháp quay lại Đông Dương.

2. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh và Đảng ta về xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân:

  • Xây dựng một nhà nước độc lập thật sự, có chính sách đối nội, đối ngoại đúng đắn và sáng suốt: Xác lập nền độc lập chính trị hoàn toàn, bác bỏ mọi hình thức thuộc địa kiểu mới, chế độ bảo hộ hay ủy trị; kết hợp nhuần nhuyễn giữa "đức trị" (nêu cao đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư) và "pháp trị" (hoạt động trên nền tảng hiến pháp và pháp luật, kiểm soát và xử lý nghiêm minh sai phạm của cán bộ); thiết lập chính sách đối ngoại rộng mở theo hướng "thêm bạn, bớt thù", tranh thủ sự công nhận quốc tế.
  • Xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân của khối đại đoàn kết dân tộc do giai cấp công nhân lãnh đạo: Vận dụng và mở rộng quyền con người từ Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp (1789) thành quyền tự quyết dân tộc; nhà nước "của dân" thông qua phổ thông đầu phiếu từ 18 tuổi và quyền bãi miễn đại biểu (Điều 20 Hiến pháp 1946); nhà nước "do dân" tự lực gánh vác, khuyến khích tư bản tư nhân sản xuất; nhà nước "vì dân" với nhiệm vụ cấp bách thực hiện 4 mục tiêu: làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở và được học hành; giữ vững bản chất giai cấp công nhân do Đảng lãnh đạo trên nền tảng liên minh công - nông, mở rộng Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt (tháng 05/1946).

Chương 2: Quá trình xây dựng và củng cố nhà nước dân chủ nhân dân thời kỳ 1945 - 1946

Chương 2 phản ánh toàn diện các hoạt động thực tiễn xây dựng thiết chế nhà nước, củng cố thực lực và đúc kết các bài học kinh nghiệm:

1. Xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân:

  • Hệ thống cơ quan nhà nước và pháp luật:
    • Tổ chức thành công Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 trên cả nước để bầu ra Quốc hội khóa I.
    • Thỏa thuận ngày 23/02/1946 lập Chính phủ mới gồm 10 bộ: Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ do nhân sĩ không đảng phái đảm nhiệm; 4 bộ giao cho Việt Minh và Đảng Dân chủ (Tài chính, Giáo dục, Giao thông công chánh, Tư pháp); 4 bộ giao cho Việt Quốc và Việt Cách (Ngoại giao, Kinh tế, Xã hội, Canh nông); lập Quốc gia Cố vấn đoàn do Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy làm Đoàn trưởng và Kháng chiến Ủy viên hội.
    • Kỳ họp thứ nhất Quốc hội (ngày 02/03/1946) tại Nhà hát Lớn Hà Nội với gần 300 đại biểu, mở rộng thêm 70 ghế không qua bầu cử cho Việt Quốc và Việt Cách nhằm hòa giải dân tộc, bầu Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Ban Thường trực Quốc hội gồm 15 ủy viên.
    • Kỳ họp thứ hai Quốc hội (28/10 đến 09/11/1946) thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thông qua Dự án Luật Lao động và thành lập Chính phủ mới (ngày 03/11/1946) gạt bỏ hoàn toàn các phần tử phản cách mạng. Tổng cộng từ 16/08/1945 đến 03/11/1946, cơ cấu Chính phủ đã trải qua 4 lần cải tổ.
    • Tổ chức chính quyền địa phương: Ban hành Sắc lệnh số 63 (ngày 22/11/1945) về Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp; Sắc lệnh số 77 (ngày 21/12/1945) về tổ chức chính quyền nhân dân tại các thị xã, thành phố; tổ chức Hội đồng nhân dân ở hai cấp tỉnh và thị xã.
    • Bộ máy chuyên chính và tư pháp: Đổi tên Giải phóng quân thành Vệ quốc đoàn, thành lập "Việt Nam Công an vụ" theo Sắc lệnh số 33 (ngày 21/02/1946), hoàn thiện hệ thống tòa án gồm Tòa án quân sự, Tòa án thường và Tòa án binh.
    • Nguyên tắc hoạt động: Đảng ra thông cáo "Tự ý giải tán" ngày 11/11/1945 để rút vào hoạt động bí mật, giữ vững sự lãnh đạo thông qua Chủ tịch nước và cán bộ chủ chốt; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ (thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách); ban hành Sắc lệnh số 40/SL (tự do báo chí), Sắc lệnh số 52/SL (tự do lập hội), Sắc lệnh số 35/SL (tự do tín ngưỡng).

2. Củng cố thực lực về mọi mặt:

  • Kinh tế - Tài chính: Phát động chiến dịch tăng gia sản xuất "Tấc đất tấc vàng"; ban hành Sắc lệnh số 7 (ngày 05/09/1945) nghiêm trị hành vi đầu cơ thóc gạo, cấm xuất khẩu gạo; triển khai phong trào "Hũ gạo tiết kiệm", "Bữa nhịn đồng tâm"; ban hành chính sách giảm tô 25% (tháng 11/1945) và chia lại ruộng đất công; giải quyết ngân sách thiếu hụt 185 triệu đồng và nợ 564 triệu đồng thông qua "Tuần lễ vàng" (nhân dân quyên góp được số vàng trị giá 20 triệu đồng), đặt ra thuế "Đảm phụ quốc phòng", phát hành đồng tiền Việt Nam độc lập vào tháng 01/1946.
  • Văn hóa - Xã hội: Xóa nạn mù chữ qua phong trào Bình dân học vụ theo 3 nguyên tắc "Dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa", mở các lớp sư phạm cấp tốc, in hàng triệu cuốn sách giáo khoa, mở lại trường trung học và đại học.
  • Quốc phòng - Ngoại giao: Thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (tháng 05/1946) do cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Chủ tịch; các công binh xưởng sản xuất được 760 loại vũ khí với tổng khối lượng 32 tấn; xây dựng 80.000 bộ đội thường trực và gần 100.000 dân quân tự vệ; về ngoại giao, ký Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946 tại 38 Lý Thái Tổ, tổ chức Hội nghị trù bị Đà Lạt (19/04 - 11/05/1946 do Nguyễn Tường Tam làm trưởng đoàn), đàm phán Hội nghị Fontainebleau (06/07 - 10/09/1946 do Phạm Văn Đồng dẫn đầu), ký Tạm ước ngày 14/09/1946 giữa Hồ Chí Minh và Marius Moutet; gửi điện văn cho Xtalin (14/01/1946 và 18/12/1946) đề nghị gia nhập Liên Hợp Quốc; gửi 9 bức thư, công hàm ngoại giao cho Tổng thống Truman và chính phủ Mỹ.

3. Những kinh nghiệm xây dựng và củng cố nhà nước:

  • Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước trong bất kỳ hoàn cảnh nào, kể cả khi rút vào hoạt động bí mật.
  • Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm cơ sở xã hội vững chắc cho bộ máy nhà nước.
  • Thực hiện chính sách đối ngoại khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt, phân hóa kẻ thù và thực hành sách lược nhân nhượng có nguyên tắc ("dĩ bất biến, ứng vạn biến").

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa toàn bộ các chủ trương lý luận và biện pháp thực tiễn của Đảng trong quá trình khai sinh, kiện toàn và bảo vệ nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên tại Việt Nam.

Dưới đây là bảng tổng hợp các sự kiện, thiết chế và số liệu then chốt được tác giả phân tích trong văn bản:

Lĩnh vực / Thiết chế Văn bản / Sự kiện / Cơ quan tiêu biểu Số liệu & Dữ kiện cụ thể ghi nhận trong khóa luận
Thể chế & Lập pháp - Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I
- Kỳ họp thứ nhất Quốc hội (02/03/1946)
- Kỳ họp thứ hai Quốc hội (28/10 - 09/11/1946)
- Bầu cử ngày 06/01/1946 trên phạm vi toàn quốc
- Gần 300 đại biểu chính thức, mở rộng 70 ghế không qua bầu cử
- Thông qua Hiến pháp 1946, Dự án Luật Lao động, lập Chính phủ ngày 03/11/1946
Hành chính địa phương - Sắc lệnh số 63 (22/11/1945)
- Sắc lệnh số 77 (21/12/1945)
- Quy định Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính
- Thiết lập Hội đồng nhân dân ở 2 cấp: cấp tỉnh và cấp thị xã
An ninh & Pháp luật - Sắc lệnh số 33 (21/02/1946)
- Hệ thống tòa án cách mạng
- Các sắc lệnh quyền dân chủ
- Thành lập "Việt Nam Công an vụ"
- Thiết lập Tòa án quân sự, Tòa án thường, Tòa án binh
- Sắc lệnh 40/SL (báo chí), 52/SL (lập hội), 35/SL (tín ngưỡng)
Kinh tế & Tài chính - Sắc lệnh số 7 (05/09/1945)
- Phong trào Tuần lễ vàng
- Chính sách giảm tô (tháng 11/1945)
- Nghiêm phạt đầu cơ, cấm xuất cảng thóc gạo
- Nhân dân đóng góp số vàng trị giá 20 triệu đồng
- Giảm tô 25%; phát hành tiền Việt Nam tháng 01/1946
Văn hóa - Giáo dục - Phong trào Bình dân học vụ
- 6 nhiệm vụ cấp bách diệt giặc dốt
- Giải quyết nạn mù chữ của trên 90% dân số
- Chương trình học chữ quốc ngữ bắt buộc trong 3 tháng
Quân sự & Quốc phòng - Vệ quốc đoàn và Dân quân tự vệ
- Hệ thống công binh xưởng vũ khí
- 80.000 bộ đội thường trực, gần 100.000 dân quân tự vệ
- Tự sản xuất 760 loại vũ khí với tổng khối lượng 32 tấn (năm 1946)
Ngoại giao - Hiệp định Sơ bộ (06/03/1946)
- Tạm ước 14/09/1946
- Quan hệ quốc tế đa phương
- Đàm phán tại Hà Nội, Đà Lạt, Fontainebleau
- Gửi 2 văn kiện cho Liên Xô, 9 công thư/điện văn cho phía Mỹ

Đóng góp của khóa luận được tác giả tự xác định:

  • Về mặt khoa học: Trình bày một cách có hệ thống đường lối, sự lãnh đạo và mô hình thiết kế bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn bước ngoặt 1945 - 1946.
  • Về mặt thực tiễn: Rút ra 3 bài học kinh nghiệm sâu sắc về giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân và sách lược ngoại giao; cung cấp cơ sở luận chứng cho công cuộc cải cách, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và nguồn tư liệu:

  • Hạn chế: Đề tài tập trung chủ yếu vào khoảng thời gian 1945 - 1946 với dung lượng quy định của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân (55 trang); nguồn tư liệu khảo cứu chủ yếu dựa trên các văn kiện Đảng, sắc lệnh đã ban hành và các công trình hồi ký, sách nghiên cứu thứ cấp, chưa đi sâu khảo sát hồ sơ lưu trữ hành chính thực địa tại từng địa phương cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu quá trình hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954); nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế vận hành của chính quyền nhân dân cấp cơ sở và cơ chế giám sát quyền lực theo tinh thần Hiến pháp năm 1946.

Giá trị tham khảo

Văn bản là tài liệu học thuật có giá trị thiết thực đối với:

  • Giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Khoa học Chính trị, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Luật học (Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam).
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến lịch sử ngoại giao, nghệ thuật phân hóa kẻ thù và các biện pháp kinh tế - tài chính xử lý khủng hoảng của Chính phủ lâm thời trong năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong cơ cấu Chính phủ mới được thỏa thuận ngày 23/02/1946, quyền lãnh đạo các bộ được phân chia như thế nào?
Chính phủ thống nhất cơ cấu gồm 10 bộ. Trong đó, Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ do các nhân sĩ không đảng phái nắm giữ; 4 bộ do Việt Minh và Đảng Dân chủ đảm nhiệm (Tài chính, Giáo dục, Giao thông công chánh, Tư pháp); 4 bộ giao cho đại diện Việt Quốc và Việt Cách (Ngoại giao, Kinh tế, Xã hội, Canh nông). Ngoài ra, cơ cấu còn thành lập Quốc gia Cố vấn đoàn do Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy làm Đoàn trưởng và Kháng chiến Ủy viên hội.

2. Đảng Cộng sản Đông Dương đã sử dụng sách lược gì vào ngày 11/11/1945 để bảo toàn quyền lãnh đạo trước âm mưu chống phá của kẻ thù?
Trước tình thế hiểm nghèo và âm mưu "diệt Cộng, cầm Hồ" của quân Tưởng, Đảng đã ra thông cáo "Tự ý giải tán", thực chất là rút vào hoạt động bí mật. Quyền lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nước vẫn được bảo đảm tuyệt đối thông qua cương vị nguyên thủ quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo của các cán bộ đảng viên giữ trọng trách trong chính quyền và Mặt trận Việt Minh, cùng kỷ luật tư tưởng thống nhất trong toàn Đảng.

3. Để tháo gỡ khủng hoảng tài chính nghiêm trọng sau cách mạng, Chính phủ lâm thời đã triển khai các biện pháp tài chính nào?
Chính phủ đã phát động phong trào "Tuần lễ vàng" (thu về số vàng trị giá 20 triệu đồng), ban hành thứ thuế mới mang tên "Đảm phụ quốc phòng", kêu gọi quyên góp trong nhân dân và chính thức phát hành đồng tiền tài chính Việt Nam độc lập vào tháng 01/1946 để thay thế và thoát khỏi sự chi phối của tiền Quan kim, Quốc tệ và đồng bạc Đông Dương.

4. Tại sao Quốc hội khóa I chấp nhận bổ sung 70 ghế đại biểu cho Việt Quốc và Việt Cách mà không qua bầu cử?
Tại Kỳ họp thứ nhất (ngày 02/03/1946), xuất phát từ sách lược đại đoàn kết dân tộc, cô lập các phần tử phản động cực đoan và tranh thủ thời gian hòa hoãn nhằm tránh xung đột vũ trang cùng lúc với nhiều thế lực ngoại bang, Quốc hội đã quyết định mở rộng 70 ghế cho Việt Quốc và Việt Cách để thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến.

5. Lực lượng vũ trang và công nghiệp quốc phòng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đạt được quy mô nào vào cuối năm 1946?
Đến cuối năm 1946, cả nước đã xây dựng được 80.000 bộ đội thường trực thuộc Vệ quốc đoàn và gần 100.000 dân quân tự vệ tại khắp các địa phương. Hệ thống công binh xưởng đã tự nghiên cứu, sản xuất được 760 loại vũ khí với tổng khối lượng đạt 32 tấn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Lệ Thanh đã tái hiện một cách hệ thống, khách quan toàn bộ tiến trình lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng và củng cố nhà nước dân chủ nhân dân thời kỳ 1945 - 1946. Tác phẩm làm nổi bật nghệ thuật kết hợp giữa nguyên lý mác-xít với thực tiễn cách mạng Việt Nam trong việc giải quyết nạn đói, giặc dốt, khủng hoảng tài chính và thù trong giặc ngoài. Các bài học kinh nghiệm về giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và sách lược ngoại giao nhân nhượng có nguyên tắc được đúc kết trong công trình tiếp tục giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn cho công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.