Chương 1 NGUỒN LỰC THÔNG TIN VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI DOANH NGHIỆP TRUYỀN THÔNG VĨ AN TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 1. Nguồn lực thông tin 1. Khái niệm thông tin Thuật ngữ thông tin (tiếng Anh- Information) có nguồn gốc từ thuật ngữ Latin - Infomatio, có nghĩa là diễn giải, thông báo. Theo nghĩa thông thường, thông tin được xem như một đối tượng có nội dung, một quá trình trao đổi giữa con người và môi trường để con người dễ dàng thích nghi với môi trường.
Con người tồn tại luôn bị chi phối và chịu sự tác động của thế giới. Cũng chính vì vậy, việc nhận thức được thế giới là mục đích quan trọng của con người. Thông tin chính là chiếc cầu nối giữa thế giới với con người. Khái niệm thông tin xuất hiện lần đầu tiên từ những năm 40 của thế kỷ XX khi nhà bác học người Mỹ C.Shannon đưa ra lý thuyết thông tin.
Cho tới nay, khái niệm thông tin đã được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Thông tin là một khái niệm phức tạp, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin. Năm 1948, bài báo “Một lý thuyết toán về truyền thông” công bố trên tạp chí Bell System Technical của C.Shannon đã đặt nền tảng cho lý thuyết thông tin. Shannon, thông tin là quá trình liên hệ nhằm loại bỏ sự bất định.
Thông tin là kết quả của phản ánh song không phải vì thế mà đánh đồng giữa thông tin và phản ánh. Thông tin còn tác động tới hành vi của chủ thể thông qua việc tiếp nhận và sử dụng thông tin. Từ đây, thông tin trong hệ thống xã hội được xem là tri thức được diễn đạt trong các thông điệp có khả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 năng nâng cao tính trật tự, tính đa dạng nội tại của hệ thống. Như vậy, thuộc tính cơ bản của thông tin là đối lập với bất định và ngẫu nhiên đã được C.
Shannon xác định trong lý thuyết thông tin toán học thì cũng phản ánh tính trật tự, tính tổ chức của các hệ thống. Mối quan hệ này làm cho "cách tiếp cận thông tin" trở nên có tính phổ biến khi nghiên cứu và xử lý các vấn đề về tổ chức, quản lý trong các hệ thống xã hội. Theo từ điển Random House Dictionary of English language, thông tin là tri thức được giao lưu hoặc được thu nhận có liên quan đến một sự kiện hoặc hoàn cảnh đặc biệt. Trong khi từ điển Oxford English định nghĩa, thông tin là tri thức, là tin tức.
Còn trong cuốn Guide to concept and term in data processing, thông tin là ý nghĩa mà con người muốn diễn đạt hoặc nhận thức ra, là sự biểu đạt các sự việc và ý tưởng bằng các phương tiện trình bày đã được quy định. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết, thông tin là tri thức được truyền từ người này qua người khác bằng lời nói, chữ viết hay bằng một phương tiện nào đó. Như vậy thông tin giúp con người hiểu biết thêm về một đối tượng, làm giảm độ bất ổn định về đối tượng. Nếu ta có một lượng thông tin nhiều bao nhiêu về sự vật, hiện tượng nào đó thì tính không ổn định hay nói cách khác là độ bất ổn định của sự vật, hiện tượng đó giảm đi bấy nhiêu.
Thông tin chính là bộ phận tri thức được sử dụng để định hướng, để tác động tích cực, để điều khiển, nghĩa là, thông tin nhằm mục đích duy trì, hoàn thiện và phát triển hệ thống. Trong các hệ thống xã hội, thông tin xã hội là phần tri thức luân chuyển, vận động tuần hoàn không ngừng thông qua các quá trình thu thập, xử lý, bảo quản, tìm kiếm, phân phối và sử dụng. Ở phạm vi nghiên cứu của luận văn này, thông tin được hiểu là các số liệu, kiến thức phản ánh bản chất sự vật, hiện tượng và được chuyển tải tới người tiếp nhận thông qua một phương tiện nào đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm nguồn lực thông tin Cũng như khái niệm thông tin, cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm nguồn lực thông tin. Song cho đến nay, nội hàm của khái niệm nguồn lực thông tin vẫn chưa xác định rõ ràng. Theo từ điển giải nghĩa về thông tin học, “ở dạng chung nhất, nguồn lực thông tin được hiểu như là tổ hợp các thông tin nhận được và tích lũy được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, để sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội. Nguồn lực thông tin phản ánh các quá trình và hiện tượng tự nhiên được ghi nhận trong kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và thực tiễn.” Trong khi đó, theo tài liệu hướng dẫn của UNESCO về việc xây dựng, phê duyệt và vận hành chính sách thông tin quốc gia lại định nghĩa: “nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, số, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước và không theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức và ngành CNTT”.
Có người cho rằng, nguồn lực thông tin là vốn tài liệu trong các cơ quan thông tin. Có ý kiến lại cho rằng, nguồn lực thông tin không chỉ bao hàm các nguồn lực về tài liệu mà còn gồm cả các thành phần khác như nhân lực thông tin, tài lực thông tin… Tuy nhiên, chúng tôi đồng ý với quan điểm, nguồn lực thông tin phản ánh những hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người, để sử dụng nhiều lần trong các quá trình sản xuất và quản lý xã hội. Đồng thời, nguồn lực thông tin được thể hiện dưới dạng tài liệu với nhiều hình thức khác nhau: văn bản, số, âm thanh, hình ảnh… Căn cứ vào sở hữu, nguồn lực thông tin có thể phân ra ở cấp toàn cầu, quốc gia, khu vực, địa phương, ngành, từng cơ quan, đơn vị, cá nhân. Trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 đó, nguồn lực thông tin cá nhân có thể hiểu như nguồn lực thông tin của các hãng, các tổ chức, cá nhân được thành lập và hoạt động bằng tiền của các tổ chức, cá nhân đó.
Từ trước đến nay, chúng ta vẫn thường quan niệm khái niệm “nguồn lực thông tin” chỉ dùng trong các cơ quan thông tin, thư viện. Song ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội thông tin, bất cứ một tổ chức, doanh nghiệp nào cũng cần đến thông tin để phục vụ cho hoạt động của tổ chức mình. Do đó, mỗi doanh nghiệp đều có một bộ phận thông tin có chức năng thu thập, xử lý, khai thác thông tin phục vụ cho lĩnh vực của mình. Chẳng hạn, nguồn lực thông tin của trường đại học dân lập, của một công ty, một DNTT.
Doanh nghiệp truyền thông Vĩ An 1. Khái niệm doanh nghiệp truyền thông Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin giữa các thực thể. Thông tin có thể được trao đổi thông qua hệ thống các ký hiệu hoặc không cần đến ký hiệu (sự thấu cảm). Truyền thông cũng là một ngành học nghiên cứu các quá trình trao đổi thông tin.
Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận.
Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những gì người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ. Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình.
Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin. Doanh nghiệp truyền thông là các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động nhằm tạo ra môi trường tương tác thông tin giữa các cá nhân, tổ chức với nhau, nhằm truyền bá, phổ biến thông tin tới đối tượng tiếp nhận thông qua một phương tiện cụ thể. Dựa trên các phương tiện chuyển tải thông tin, chúng ta thấy có rất nhiều cơ quan truyền thông như: Đài truyền hình, Hãng thông tấn xã…Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, đối tượng nghiên cứu là DNTT Vĩ An là một đơn vị chuyên tổng hợp thông tin, cung cấp thông tin từ các nguồn thông tin khác nhau về lĩnh vực cụ thể để cung cấp cho mỗi đối tượng khách hàng. DNTT Vĩ An hoạt động như một nhà cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin.
Trên thị trường thế giới về thông tin và các dịch vụ và sản phẩm thông tin, người ta có thể chia chúng thành các bộ phận chính, đặc trưng cho các nước phát triển và không phụ thuộc vào kênh truyền tin, nghĩa là được phổ biến cả trên Internet, như sau: - Bộ phận thông tin doanh nghiệp (thị trường chứng khoán, tài chính, thương mại, kinh tế, thống kê) bao gồm: + Thông tin chứng khoán và tài chính: thông tin về giá cổ phiếu, tỷ giá ngọai tệ, thị trường hàng hóa và tiền tệ, đầu tư, giá cả,… do các thị trường chứng khoán, các cơ sở chuyên về thông tin chứng khoán và thị trường, các công ty môi giới, nhà băng cung cấp; + Thông tin kinh tế và thống kê xã hội: thông tin về chỉ số kinh tế, dân số, xã hội dưới dạng chuỗi động thái, mô hình dự báo và đánh giá,…do các cơ quan nhà nước, các công ty nghiên cứu và tư vấn về nhu cầu của thị trường cung cấp; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 + Thông tin thương mại: thông tin về các hãng, công ty, tập đoàn, về hướng hoạt động và sản phẩm của chúng, về giá cả, tình hình tài chính, các mối quan hệ, các hợp đồng… + Tin tức trong lĩnh vực kinh tế và kinh doanh do các bộ phận thông tin chuyên dạng cung cấp.