Đặt vấn đề nghiên cứu Phát triển bền vững (PTBV) đang là xu thế tất yếu của tiến trình phát triển xã hội. Ở mỗi quốc gia và các khu vực trên thế giới đều xuất hiện các vấn đề như khan hiếm nhiên liệu, tài nguyên cạn kiệt, môi trường thiên nhiên đang gặp tình trạng đáng báo động, mất cân bằng sinh thái. Bên cạnh đó là các vấn đề về kinh tế như sự chênh lệch giàu nghèo khiến cho việc tiếp cận các nguồn tài nguyên, dịch vụ y tế, giáo dục, mức sống không công bằng. Từ những vấn đề còn tồn tại đó, PTBV trở thành yêu cầu, nhiệm vụ không chỉ riêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc mà đó còn là sự chung tay của từng cá nhân, từng tổ chức, doanh nghiệp trên thế giới (Hải, 2018).
Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhận định, các doanh nghiệp hoạt động dựa trên mô hình quản trị bền vững có khả năng chịu đựng và kiên cường hơn các doanh nghiệp khác trong bối cảnh Covid-19 thực tế vừa diễn ra (Vi, 2020). Hiện nay, Việt Nam và các nước trên thế giới vẫn đang khắc phục hậu quả do đại dịch Covid-19, lạm phát, căng thẳng về chính trị, chiến tranh xảy ra, sự phục hồi chậm của nền kinh tế và suy giảm nhu cầu tiêu dùng,… càng nhấn mạnh thêm rằng phát triển bền vững nên là một trong những mục tiêu dài hạn cho sự tồn tại và thành công của các doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và ngành xây dựng là bền chặt. Các tác động tiêu cực của các hoạt động xây dựng lên môi trường từ lượng khí thải carbon, ô nhiễm tiếng ồn, không khí, nguồn nước và lượng rác thải xây dựng luôn là những vấn đề được quan tâm hơn cả.
Thế nhưng cũng không thể phủ nhận được các tác động về mặt kinh tế và xã hội. Là một trong những ngành có ảnh hưởng lớn đến kinh tế nước nhà và sử dụng số lượng lớn nhân công, cụ thể, tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng tại Việt Nam năm 2022 ước tính đạt 8-8,5% (Hiếu, 2022), với hơn 7 triệu lao động đang hoạt động trong ngành và con số này được dự đoán có thể đạt tới 12-13 triệu người vào năm 2030 ( Phong, 2020). Các DN nói chung và các DN xây dựng, đặc biệt là nhà thầu xây dựng nói riêng đóng vai trò là chủ thể quan trọng tác động không nhỏ tới mục tiêu phát triển GVHD 1: PGS. ĐỖ TIẾN SỸ HVTH: LÊ KHÁNH LINH GVHD 2: TS.
NGUYỄN THANH VIỆT [LUẬN VĂN THẠC SĨ] 2 bền vững. Tuy vậy, nhiều công ty chưa thực sự chú trọng trong việc nghiên cứu và tập trung phát triển bền vững, có thể dễ dàng nhận thấy thông qua việc chỉ có số ít các DN xây dựng thực hiện báo cáo Phát triển bền vững. Báo cáo bền vững được định nghĩa bởi Hội đồng doanh thế giới về Phát triển bền vững (World Business Council for Sustainable Development – WBCSD): “là những công bố, trách nhiệm mà DN phải chịu trước các bên liên quan đối với các hành động hướng tới phát triển bền vững của mình trên các khía cạnh về kinh tế, môi trường và xã hội” (WBCSD, 2003), cũng từ đây mà DN có cái nhìn tổng quan về chính họ, xác định được các thiếu xót cần cải thiện. Vào năm 2019, trên thế giới có 600 DN từ 65 quốc gia thực hiện Báo cáo bền vững, mà Châu Á chỉ chiếm 18% Hình 1.1 thể hiện tỉ lệ các DN phát hành Báo cáo bền vững tại các châu lục.
Tỷ lệ các DN tại các châu lục tham gia thực hiện Báo cáo PTBV (Nguồn: Hội đồng DN vì sự phát triển bền vững Việt Nam, 2019) Vào năm 2020, tại Việt Nam có khoảng 700.000 DN nhưng chỉ có 2.000 DN (2%) là thành viên của cộng đồng Doanh nghiệp và khoảng 100. Còn theo báo cáo của KPMG (2022) chỉ ra rằng, trong 100 DN hàng đầu tại Việt Nam chỉ có 8% DN thuộc nhóm ngành xây dựng và vật liệu thực hiện báo cáo bền vững. Có thể thấy, các doanh nghiệp xây dựng chỉ vừa tiếp cận tới PTBV và sẽ là điều khó khăn để các các chủ doanh nghiệp có thể nắm bắt được đầy đủ và toàn diện để áp dụng có hiệu quả cho doanh nghiệp của mình. ĐỖ TIẾN SỸ HVTH: LÊ KHÁNH LINH GVHD 2: TS.
NGUYỄN THANH VIỆT [LUẬN VĂN THẠC SĨ] 3 Từ những thực trạng được đề cập trên, nhằm thuận lợi trong xây dựng mô hình có thể áp dụng được tại Việt Nam và đánh giá mô hình thông qua các Case studies, sau thời gian thu thập dữ liệu và lựa chọn, tác giả nhận thấy các doanh nghiệp với vai trò chủ lực là nhà thầu chính có những hoạt động thực hiện kinh doanh bền vững nổi cũng như có đầy đủ số liệu nhằm phục phụ cho luận văn. Do đó, luận văn sẽ thực hiện xây dựng mô hình trưởng thành nhằm hỗ trợ đánh giá sự phát triển bền vững của các nhà thầu chính tại Việt Nam. Mô hình trưởng thành là cơ sở hệ thống đánh giá được trạng thái của một tổ chức, cải thiện quy trình và khả năng quản lý quy trình kinh doanh của tổ chức (Röglinger, Pöppelbuß and Becker, 2012). Mô hình trưởng thành (Maturity model) đánh giá sự phát triển bền vững của các nhà thầu chính tại Việt Nam sẽ là công cụ giúp chủ doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc đánh giá vị trí hiện tại của bản thân DN trong công cuộc định hướng PTBV, từ đó có những cải tiến nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững cao hơn.
Ngoài ra đối với các đơn vị nhà thầu chính đang bước đầu tiếp cận, mô hình sẽ là những gợi ý giúp cho nhà thầu có thể cân nhắc áp dụng phù hợp với tình hình thực tế tại Doanh nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài (1) Xây dựng mô hình trưởng thành phát triển bền vững cho các nhà thầu xây dựng tại Việt Nam. (2) Ứng dụng mô hình để đánh giá mức độ bền vững vào các đơn vị nhà thầu chính tại Việt Nam 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là mô hình trưởng thành phát triển bền vững cho các nhà thầu chính tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu tại Việt Nam, mô hình được áp dụng thực tế tại các Đơn vị Nhà thầu chính tại Việt Nam để đánh giá. - Về thời gian: Theo kế hoạch làm Luận văn tốt nghiệp năm 2023: Từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2023. ĐỖ TIẾN SỸ HVTH: LÊ KHÁNH LINH GVHD 2: TS.
NGUYỄN THANH VIỆT [LUẬN VĂN THẠC SĨ] 4 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Giới thiệu chương Trong Chương 2, tác giả sẽ giới thiệu các khái niệm được sử dụng trong Luận văn và tổng quan các NC trước đây về nội dung và các hạn chế cũng như thành quả nghiên cứu. Các nội dung này sẽ cung cấp đồng thời một cơ sở lý thuyết và các kế thừa kết quả của các NC trong và ngoài nước để thực hiện các mục tiêu của Luận văn.
Phát triên bền vững “Vào năm 1980, khái niệm về phát triển bền vững được phát biểu trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” với nội dung: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Vào năm 1987, khái niệm PTBV được định nghĩa rõ ràng hơn trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc đã nêu ra rằng sự PTBV là“sự phát triển mà vừa có thể đáp ứng được các nhu cầu hiện tại của chúng ta, nhưng đồng thời cũng không làm tổn hại đến việc đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai sau này.” “Các quan điểm trên đều chỉ ra rằng việc phát triển cần gắn liền với việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao môi trường sống của con người, bảo đảm sự phát triển, nhu cầu đồng thời của hiện tại và tương lai.” Tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức vào năm 1992, sau được bổ sung và hoàn chỉnh tại Hội nghị Thưởng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững được diễn ra tại Johannesburg vào năm 2002 đã khẳng định rằng:“Phát triển bền vững là quá trình phát triển chặt chẽ và hài hòa giữa 3 yếu tố sau (Rogall G, 2009): “Thứ nhất là sự phát triển về kinh tế; Thứ hai là xã hội tiến bộ, công bằng, xóa đói giảm nghèo và khắc phục được tình trạng việc làm cho người dân; GVHD 1: PGS. ĐỖ TIẾN SỸ HVTH: LÊ KHÁNH LINH GVHD 2: TS. NGUYỄN THANH VIỆT [LUẬN VĂN THẠC SĨ] 5 Thứ ba là bảo vệ môi trường, khắc phục, phục hồi về chất lượng môi trường, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn nạn chặt phá rừng, phòng chống cháy rừng.
Mục tiêu của phát triển bền vững “Quan điểm phát triển bền vững bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản được tuyên bố tại Hội nghị thưởng đỉnh của thế giới về môi trường và Phát triển tổ chức tại Rio de Janero (Brazil) vào năm 1992. Tại đây các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng các nhà chính trị đã thống nhất coi PTBV là trách nhiệm chung của các quốc gia trên thế giới, của nhân loại. Sau đó tại hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ diễn ra vào tháng 9 năm 2000, 189 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc tại cuộc Hội nghị đã cùng nhất trí phấn đấu đạt được 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ MDGs (Millenium Development Goals). Tiếp theo đó vào năm 2015, Các nước thành viên Liên Hợp Quốc đã thông qua các mục tiêu phát triển bền vững SDGs (Sustainable Development Goals) nhằm kêu gọi hành động cùng chung tay xóa đói giảm nghèo, bảo đảm mọi người được sống trong hòa bình, bảo vệ trái đất đến năm 2030.
SDGs bao gồm 17 mục tiêu, 169 mục tiêu cụ thể và có 232 tiêu chí. Dựa vào SDGs mà từng quốc gia sẽ tự chủ động chuyển đổi các mục tiêu sao cho phù hợp với bối cảnh và trình độ phát triển ở mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, phát triển nhanh và bền vững được Đảng và Nhà nước xem là nhiệm vụ trọng tâm. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh mục mục tiêu phát triển bền vững 2030 vào năm 2019, bao gồm 17 mục tiêu chung và 119 mục tiêu cụ thể được thể hiện tại Hình 2.
Và đối với từng lĩnh vực hoạt động mà các mục tiêu, tiêu chí được linh động áp dụng. ĐỖ TIẾN SỸ HVTH: LÊ KHÁNH LINH GVHD 2: TS.