CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU TÍNH CHỈ SỐ SUV 1.1 Hệ thống PET/CT Từ giữa những năm 1970, ghi hình cắt lớp bằng bức xạ positron (Positron Emission Tomography: PET) được sử dụng nghiên cứu trong lâm sàng các bệnh thần kinh và tim mạch. Hơn thập kỷ sau, các nhà nghiên cứu nhận thấy PET còn là một công cụ chuẩn đoán có giá trị trong ung thư. Khác với các phương pháp chuẩn đoán hình ảnh cấu trúc, giải phẩu như chụp cắt lớp vi tính (Computed Tomography – CT) hay cộng hưởng từ (Magnetic Resonance Imaging – MRI), PET ghi lại hình ảnh định tính và định lượng quá trình sinh – bệnh lý và chuyển hóa các bệnh lý thông qua các chất phóng xạ được đánh dấu. Về nguyên lý và chuyển hóa các bệnh lý thông qua dược chất phóng xạ được đánh dấu.
Về nguyên lý, bất cứ đồng vị phóng xạ nào có khả năng phát Positron đều có thể dùng làm chất đánh dấu trong chụp hình PET. Từ những năm 1980, PET bắt đầu được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng. Nhưng mãi đến cuối thập niên 90 của thế kỷ trước (sau 1997) nhờ sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ nhất là trong lĩnh vực chế tạo các đầu dò (detector) nhậy gồm các tinh thể BGO (Bismuth Germanat Oxy) hay LSO (Litetium Oxyorthosilicate) và trong sản xuất các dược chất phóng xạ mới với các hợp chất hữu cơ khác nhau, tiếp theo là sự ra đời của tổ hợp PET/CT gắn máy PET với CTscanner, kỹ thuật này mới tạo ra bước đột phá trong chẩn đoán bệnh và nghiên cứu khoa học. Sự kết hợp giữa PET và CT trong cùng một hệ thống PET/CT cho phép khai thác tối ưu các lợi thế của PET và xác định hoạt tính chuyển hóa của các tổ chức kết hợp với các thông tin xác định vị trí, biến đổi về hình thái, cấu trúc của tổn thương trên hình CT.
Nhờ các tiến bộ không ngừng về công nghệ tạo ra các thế hệ PET/CT mới, sự phát triển liên tục các dược chất phóng xạ được sử dụng trong nghiên cứu và lâm sàng ngày càng góp phần khẳng định vai trò quan trọng của phương pháp này trong y học hiện đại. Từ đó, PET/CT đã giúp khắc phục một số khó khăn, hạn chế của SPECT trong tim mạch học, mở ra một triển vọng mới cho chuyên ngành thần kinh, tâm thần, đặc biệt đã mang lại lợi ích rất lớn trong ung thư lâm sàng và nghiên cứu sinh bệnh học ung thư. 1 Máy PET/CT là một hệ thống kết hợp giữa máy PET (Positron Emission Tomography) và máy chụp cắt lớp vi tính (CT-Scanner: Computed Tomography). Đó không chỉ là sự kết hợp về nguyên tắc vật lý, nguyên tắc hoạt động, PET/CT cũng là sự kết hợp giữa hình ảnh chức năng, chuyển hoá ở mức độ tế bào, mức độ phân tử, giúp chẩn đoán sớm, đặc hiệu của PET với hình ảnh cấu trúc giải phẫu rõ nét của các cơ quan, định vị chính xác của CT.
Do vậy PET/CT có khả năng phát hiện tổn thương và các biến đổi bất thường trong cơ thể ở những giai đoạn rất sớm - mức độ phân tử - đặc biệt là sự hình thành, phát triển và di căn của các khối u. 1: Hình ảnh được chụp từ máy PET/CT Máy PET/CT là một trong những thiết bị chẩn đoán hình ảnh sử dụng kỹ thuật Y học hạt nhân hiện đại. Bệnh nhân được uống hoặc tiêm một liều dược chất phóng xạ (DCPX) tập trung đặc hiệu vào tổ chức cần ghi hình. Sau khi nhận liều một thời gian nhất định đủ để cho DCPX tập trung và phân bố vào tổ chức bệnh lý, bệnh nhân được đưa vào máy để chụp đồng thời xạ hình PET và chụp cắt lớp CT.
2: Máy PET/CT Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy PET/CT đã làm thay đổi quyết định điều trị trên 30% - 40% ở bệnh nhân ung thư. Dựa vào hình ảnh PET/CT, độ nhạy và độ đặc hiệu chẩn đoán giai đoạn ung thư trước hoặc sau điều trị được cải thiện rõ rệt so với sử dụng CT đơn thuần. PET/CT chính xác hơn từ 10-15% so với sử dụng PET riêng rẽ trong xác định giai đoạn ung thư. Tăng độ chính xác gắn liền với sự thuận tiện và mức độ tin tưởng của bác sỹ khi các thông tin về chuyển hóa được kết hợp với biến đổi cấu trúc, khu trú tổn thương trên hình ảnh PET/CT.
Các tiến bộ trong xạ trị ung thư với sự ra đời với nhiều kỹ thuật mới đòi hỏi xác định chính xác hơn thể tích của tổn thương đích để hạn chế gây ảnh hưởng xạ trị tới tổ chức bình thường xung quanh. Bên cạnh đó, người ta đã thấy CT có độ nhạy và đặc hiệu tương đối thấp trong phân định ranh giới tổ chức khối u. Sử dụng PET/CT sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn so với CT để giải quyết vấn đề này. PET/CT có độ nhạy và đặc hiệu cao hơn của PET hoặc của CT riêng biệt trong lập kế hoạch xạ trị.
Dưới đây là hình ảnh mạng lưới hệ thống chụp PET/CT ở nước ta (tính tới năm 2022) 3 Hình 1. 3: Mạng lưới hệ thống chụp PET/CT toàn quốc Dự kiến trong những năm tới, nước ta và các nước trên thế giới sử dụng máy PET/CT sẽ ngày càng tăng lên và nhu cầu các chuyên khoa lâm sàng cần đến chỉ định của PET/CT cũng ngày càng tăng lên. Chụp PET/CT là phép ghi nhận hình ảnh chức năng bằng kỹ thuật y học hạt nhân (PET) kết hợp với chụp hình cấu trúc bằng CT. PET/CT cung cấp các thông tin chẩn đoán mà các phương pháp chụp hình khác (CT, MRI…) không thể có được.
Thông tin chẩn đoán bệnh ở mức độ phân tử sử dụng để đánh giá quá trình sống bao gồm chuyển hoá tế bào, lưu thông tuần hoàn, tưới máu, mức độ gắn kết các thụ thể (receptor-ligand) nhờ vậy có thể phân biệt được tình trạng bình thường hay bất thường trong cơ thể người bệnh. Hình ảnh PET cho phép đánh giá các thay đổi sinh lý, hoá học liên quan đến chuyển hóa xảy ra sớm hơn rất nhiều trước khi có những thay đổi về cấu trúc đến mức có thể phát hiện được bằng các kỹ thuật chụp hình khác như CT, MRI…Với những ưu thế vượt trội trên, PET/CT được ứng dụng lâm sàng nhiều nhất trong thần kinh học, tim mạch học và ung thư học. Và chỉ số SUV là một trong những những chỉ số sinh học quan trọng nhất trong quá trình đọc kết quả hình ảnh PET/CT.2 Chỉ số SUV SUV (Standardiezd Uptake Value) là giá trị định lượng được sử dụng phổ biến nhất để đánh giá hình ảnh PET tĩnh. Giá trị SUV cung cấp một phương pháp đo chuẩn hóa cho phép so sánh giữa các lần ghi hình PET cũng như giữa các bệnh nhân với nhau.1 Tính giá trị chỉ số SUV Giá trị hấp thu được tiêu chuẩn hóa SUV, (còn được gọi là tỷ lệ hấp thụ liều, DUR) là một bộ định lượng hình ảnh PET sử dụng rộng rãi, được tính đơn giản là tỷ lệ của nồng độ phóng xạ trong mô tại thời điểm T (C PET (T)) và liều dùng tại thời điểm tiêm chia cho trọng lượng cơ thể.
SUV được chuẩn hóa theo trọng lượng cơ thể người bệnh được tính theo công thức sau : 𝐶𝐶(𝑇𝑇) 𝑆𝑆𝑆𝑆𝑆𝑆𝐵𝐵𝐵𝐵 = (1) 𝐷𝐷 ⁄𝐵𝐵𝐵𝐵 Hình 1. 4 Minh họa tính giá trị chỉ số SUV Theo y văn: Chỉ số SUV được sử dụng để phân biệt giữa các u lành tính và ác tính. Nếu SUV < 2, giá trị dự báo lành tính lên trên 90%. Còn nếu SUV > 4 thì dự báo ác tính trên 85%.2 Các mô hình tính chỉ số SUV Các nhà y sinh học còn mô tả sự hấp thụ và chuyển hóa FDG bằng hai mô hình tính chỉ số SUV thay thế cho 𝑺𝑺𝑺𝑺𝑺𝑺𝑩𝑩𝑩𝑩 như sau : Khối lượng nạc cơ thể (LBM), và diện tích bề mặt cơ thể (BSA).
𝑺𝑺𝑺𝑺𝑺𝑺𝑳𝑳𝑳𝑳𝑳𝑳 được tính theo khối lượng cơ thể nạc như sau: 𝐶𝐶(𝑇𝑇) 𝑆𝑆𝑆𝑆𝑆𝑆𝐿𝐿𝐿𝐿𝐿𝐿 = (2) 𝐷𝐷 ⁄𝐿𝐿𝐿𝐿𝐿𝐿 LBM được tính đối với đàn ông như sau: 𝐵𝐵𝐵𝐵 2 𝐿𝐿𝐿𝐿𝐿𝐿𝑀𝑀𝑀𝑀𝑀𝑀𝑀𝑀 = 1.10 × 𝐵𝐵𝐵𝐵 − 120 × � � (3) 𝐻𝐻 LBM được tính cho phụ nữ: 𝐵𝐵𝐵𝐵 2 𝐿𝐿𝐿𝐿𝐿𝐿𝐹𝐹𝐹𝐹𝐹𝐹𝐹𝐹𝐹𝐹𝐹𝐹 = 1. SUV tính theo diện tích bề mặt cơ thể (BSA) được tính theo công thức sau: 𝐶𝐶(𝑇𝑇) 𝑆𝑆𝑆𝑆𝑆𝑆𝐵𝐵𝐵𝐵𝐵𝐵 = (5) 𝐷𝐷 ⁄𝐵𝐵𝐵𝐵𝐵𝐵 BSA được tính: 𝐵𝐵𝐵𝐵𝐵𝐵 = 𝐵𝐵𝐵𝐵 0. Ý nghĩa của chỉ số SUV Hình ảnh PET/CT sử dụng dược chất phóng xạ 18F-FDG là một công cụ lâm sàng được sử dụng rộng rãi trong ung thư, tim mạch và thần kinh học. Tương tự như Glucose, sự hấp thụ 18F-FDG của tế bào cung cấp một dấu hiệu chuyển hóa Glucose trong cơ thể và cho phép các bác sĩ lâm sàng phát hiện các vùng tăng chuyển hóa bất thường, có thể chỉ ra ung thư, hoặc vùng hạ natri máu, có thể biểu hiện hoại tử hoặc đặc trưng của một số dạng chứng mất trí.
Đánh giá định tính các hình ảnh PET thường đủ để phát hiện tổn thương và chẩn đoán. Đánh giá đáp ứng điều trị, đặc biệt là tiên lượng đáp ứng trong điều trị. Bên cạnh đó nhu cầu đánh giá định lượng các thay đổi trong chuyển hóa 18F-FDG 6 là rất cần thiết. Xa hơn nữa, đánh giá định lượng chuyển hóa sẽ có vai trò khách quan hơn, khắc phục được các nguyên nhân chủ quan do điều kiện tiến hành, điều kiện về các trang thiết bị.
Phương pháp chính xác để định lượng sự hấp thu 18F-FDG là sử dụng một phương pháp phân tích hồi quy các dữ liệu thu được. Tuy nhiên để thiết kế được một quy trình như vậy là không thực tế đối với số lượng, cũng như tình trạng bênh nhân trong thực tế. Do dó phần lớn các quá trình ghi nhận ảnh PET/CT trong lâm sàng được thực hiện bằng cách sử dụng một quy trình ngắn, tĩnh. Trong công thức (1) không bao gồm chỉ số glucose, điều này sẽ có thể ảnh hưởng đến việc so sánh giá trị SUV giữa các bệnh nhân có nồng độ glucose trong máu khác nhau đáng kể.
Tuy nhiên, khi chuẩn bị bệnh nhân trước khi tiến hành ghi hình PET/CT đều cần xác định mức đường trong phạm vi chấp nhận được: điều này thường đạt được bằng cách yêu cầu nhịn ăn ít nhất bốn giờ trước khi tiêm. Cũng theo công thức (1) nếu một gam mô có thể xấp xỉ thể tích là 1 ml, khi đó 𝑺𝑺𝑺𝑺𝑺𝑺𝑩𝑩𝑩𝑩 là sẽ có giá trị không giới hạn. Chính vì các yếu tố như trên nên khi tiến hành ghi nhận hình ảnh PET/CT việc kiểm soát được giá trị chỉ số SUV là rất quan trọng. Đã có nhiều nghiên cứu nhằm đánh giá xem giá trị SUV ý nghĩa nằm khoảng nào.
Không phải mọi giá trị SUV đều có nghĩa.