mở đầu (1959-1972) Đây là giai đoạn khôi phục và phát triển các thư viện KHKT, đồng thời bước đầu thành lập một số phòng, ban thông tin KHKT ở một số bộ, ngành chủ chốt, ví dụ: Phòng thông tin Khoa học, Uỷ ban Khoa học Nhà nước thành lập năm1961. Trong giai đoạn này, các cơ quan thông tin KHKT có nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ thông tin cho cơ quan chủ quản của mình. Tuy nhiên, đến giữa những năm 60 đã bắt đầu hình thành mạng lưới các cơ quan thông tin KHKT và Uỷ ban Khoa học Nhà nước được giao chức năng quản lý hoạt động này trong phạm vi toàn quốc. - Giai đoạn hình thành và phát triển Hệ thống (1972-1986) Từ sau Hội nghị thông tin KHKT toàn quốc lần thứ I (năm 1971) và nhất là sau khi có Nghị quyết 89/CP (năm 1972), hàng loạt các cơ quan thông tin ngành và địa phương ra đời.
Có thể nói, đây là thời kỳ các cơ quan thông tin KHKT phát triển mạnh về số lượng và hoạt động theo cơ chế quản lý tập trung, bao cấp khá chặt chẽ cả về kế hoạch, nghiệp vụ, đào tạo cán bộ, hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, tiềm lực tư liệu, cán bộ và cả trang thiết bị của các cơ quan thông tin đều còn rất nghèo nàn. Sản phẩm và dịch vụ của các cơ quan thông tin chủ yếu là các ấn phẩm thông tin và phục vụ thư viện theo phương pháp truyền thống. - Giai đoạn đổi mới hoạt động thông tin KHCN (1986-1996) Từ năm 1986, đất nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong giai đoạn này, Hệ thống thông tin KHCN Quốc gia vẫn phát triển khá mạnh về tất cả các mặt. Nhưng điểm đáng lưu ý là từ giai đoạn này đã bắt đầu việc phân cấp trong xây dựng kế hoạch và đảm bảo tài chính và cơ chế quản lý Nhà nước đối với hoạt động thông tin KHCN này cũng bắt đầu có những thay đổi, chẳng hạn như: chuyển từ việc quản lý theo kế hoạch, phân bổ dàn đều trước đây dần sang quản lý, đầu tư theo trọng điểm, theo dự án, nhiệm vụ, theo các mạng trao đổi, theo năng lực của các cơ quan thông tin KH&CN. - Giai đoạn phát triển phục vụ CNH và HĐH (từ 1996 đến nay) Cùng với các cơ quan KHCN, đây là giai đoạn các cơ quan thông tin KHCN các ngành, các cấp khẩn trương đổi mới để đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH và HĐH đất nước. ____________ 10 “M« h×nh TV§T vÒ KHCN ¬ ®Þa ph−¬ng ” §Ò tµi cÊp Bé __ Đặc điểm của hoạt động thông tin KHCN trong giai đoạn hiện tại là tăng cường kết hợp ngày càng chặt chẽ: - Giữa hoạt động thông tin KHCN với hoạt động thư viện và hướng tới xây dựng các thư viện điện tử; - Giữa thông tin KHCN với thông tin kinh tế, thông tin thị trường, thông tin công nghệ, thông tin thống kê; - Giữa hoạt động thông tin KHCN với thông tin đại chúng; - Giữa hoạt động thông tin KHCN với tin học và viễn thông.
Điều này được thể hiện rất rõ nét qua cơ cấu, chức năng nhiệm vụ của nhiều cơ quan thông tin KHCN, đặc biệt là cơ quan thông tin ngành và địa phương trong mấy năm gần đây. Những nội dung cơ bản mà các cơ quan thông tin KHCN các ngành, các cấp đều tập trung triển khai trong mấy năm gần đây là: - Kiện toàn bộ máy, tổ chức lại dây chuyền công nghệ theo hướng gọn nhẹ và hiệu quả; - Tạo lập tiềm lực thông tin cục bộ, nhất là nguồn tin nội sinh; Tăng cường nguồn tin điện tử, tận dụng khai thác INTERNET và các nguồn tin trên CD/ROM; Tận dụng các khả năng chia sẻ, hỗ trợ nguồn tin trong và ngoài nước; - Cải tiến sản phẩm theo hướng hiện đại: lấy công cụ mạng và các CSDL làm xương sống cho mọi hoạt động; - Tham gia tích cực các triển lãm, hội chợ, Techmart (chợ công nghệ và thiết bị), tăng cường góp phần tạo lập thị trường công nghệ, cung cấp thông tin KHCN cho doanh nghiệp.; - Áp dụng những hình thức phục vụ mới: Kho mở (với cổng từ, mã vạch), Phòng đa phương tiện; Truy cập trực tuyến; - Đẩy mạnh việc xây dựng thư viện điện tử, các website về KHCN; - Tăng cường tuyên truyền, phổ biến KHCN; Triển khai rộng “Mô hình cung cấp thông tin KHCN phục vụ phát triển kinh tế –xã hội nông thôn, miền núi”’. Những kết quả nổi bật ____________ 11 “M« h×nh TV§T vÒ KHCN ¬ ®Þa ph−¬ng ” §Ò tµi cÊp Bé __ a) Hệ thống thông tin KHCN Quốc gia rộng khắp đã được hoàn thiện và tiếp tục phát triển Hệ thống thông tin KHCN Quốc gia được xây dựng theo mô hình 4 cấp: Trung ương, Bộ/ngành, địa phương và cơ sở. Cụ thể là: - Trung tâm Thông tin KHCN Quốc gia là cơ quan đầu mối liên kết trung tâm của Hệ thống; - 44 cơ quan thông tin KHCN cấp Bộ/ngành, trong đó có 2 trung tâm thông tin chuyên dạng tài liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ; 42 cơ quan thông tin của các Bộ/ngành, các cơ quan thuộc chính phủ, các tổ chức chính trị xã hội; - 64 cơ quan thông tin KHCN cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương; - Hơn 400 cơ quan TT-TV tại các viện/trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng; Hàng chục trung tâm thông tin KHCN ở các Tổng công ty 90, 91.
Về cơ sở vật chất kỹ thuật: Nhiều cơ quan TT-TV đã được Nhà nước và các bộ, ngành, địa phương chú trọng phát triển trụ sở, nhà xưởng, điều kiện làm việc, đảm bảo trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Điều kiện làm việc của nhiều cơ quan thông tin KHCN được liên tục cải thiện. Nguồn tin KHCN được phát triển, từng bước đáp ứng những nhu cầu cơ bản về thông tin KHCN của đất nước Nguồn tin - nguyên liệu cơ bản của hoạt động thông tin đã ngày càng được chú trọng lựa chọn, thu thập bổ sung một cách chủ động. Trong những năm gần đây, hàng năm Nhà nước đầu tư khoảng 1,5 triệu USD cho các cơ quan TT-TV chủ chốt để mua sách báo và các nguồn tin điện tử của nước ngoài.
Cho tới nay, trong toàn Hệ thống có hơn 3 triệu đầu tên sách, trên 6700 tên tạp chí (hiện tại, tiếp tục bổ sung hàng năm khoảng 1500 tên), 15.000 tạp chí điện tử toàn văn, 25 triệu bản mô tả sáng chế phát minh, trên 200 nghìn tiêu chuẩn; 50 nghìn catalo công nghiệp, 4000 bộ báo cáo địa chất, 4.000 báo cáo kết quả nghiên cứu, luận án tiến sĩ; hàng chục triệu biểu ghi trên CD/ROM về các vấn đề mũi nhọn như năng lượng, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, vật liệu mới,. ____________ 12 “M« h×nh TV§T vÒ KHCN ¬ ®Þa ph−¬ng ” §Ò tµi cÊp Bé __ c). Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin đa dạng từ truyền thống tới hiện đại Ân phẩm thông tin: Hiện tại, trong toàn Hệ thống xuất bản gần 300 ấn phẩm thông tin định kỳ, trong đó có hàng chục ấn phẩm bằng tiếng Anh dùng để trao đổi quốc tế. Ngoài ra, hàng năm các cơ quan thông tin KHCN còn xuất bản nhiều ấn phẩm không định kỳ, sách chuyên đề, tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, tài liệu dịch, các Nông lịch của các địa phương.
Cơ sở dữ liệu, Ngân hàng dữ liệu: Đến nay, trong Hệ thống thông tin KHCN Quốc gia Việt Nam có tới trên 300 CSDL tư liệu và dữ kiện nội sinh. Hầu hết là các CSDL nhỏ (từ vài nghìn tới vài chục nghìn biểu ghi) dùng để quản trị các kho tư liệu của cơ quan. Tuy nhiên, cũng có những CSDL lớn vài trăm nghìn biểu ghi như một số CSDL của Trung tâm Thông tin KHCN Quốc gia, của Trung tâm Thông tin Tư liệu, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.v Các CSDL được bắt đầu xây dựng từ cuối những năm 80 và phát triển mạnh vào những năm 90 của thế kỷ XX. Những CSDL này được thiết kế chủ yếu theo CDS/ISIS, FOXPRO, ORACLE, ACCESS.
Phổ biến nhất là các CSDL về sách, về các bài báo, tài liệu hội nghị, hội thảo, luận văn, kết quả nghiên cứu, tiêu chuẩn, mô tả sáng chế, về thiết bị và công nghệ, chuyên gia tư vấn. Từ chỗ chỉ có các CSDL thư mục, sau đó là các CSDL tóm tắt đến nay nhiều cơ quan thông tin đã xây dựng các CSDL toàn văn. Các CSDL đó liên kết với nhau tạo thành Ngân hàng dữ liệu và bắt đầu hình thành các Thư viện điện tử về KHCN. Bản tin điện tử: Với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, nhiều cơ quan đã phát triển loại hình bản tin điện tử.
Sản phẩm này bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ 1995 và đặc biệt phát triển nhanh về số lượng cũng như chất lượng từ 1997, khi Việt Nam bắt đầu hoà nhập Internet. Hiện tại, trong toàn Hệ thống có tới hàng trăm bản tin điện tử. Sản phẩm này ngày càng phát huy những ưu điểm: trao đổi thuận tiện, nhanh, nội dung phong phú, bao gói thông tin dễ dàng. Trình độ công nghệ của nhiều tổ chức thông tin KHCN trong Hệ thống đã được phát triển và nâng cao.
Nhiều tổ chức thông tin KHCN đã áp dụng những CNTT và truyền thông tiên tiến, những trang thiết bị hiện đại ____________ 13 “M« h×nh TV§T vÒ KHCN ¬ ®Þa ph−¬ng ” §Ò tµi cÊp Bé __ -. Nhiều Website, thư viện điện tử, Cổng giao tiếp điện từ về KHCN đã, đang được xây dựng, phát triển: Trong 5 năm gần đây, nhiều cơ quan thông tin KHCN đã tăng cường ứng dụng mạnh mẽ CNTT và truyền thông, các thành tựu tiên tiến và các chuẩn. Hầu hết các cơ quan thông tin KHCN đã kết nối và tích cực khai thác INTERNET. Một số cơ quan thông tin KH&CN đã xây dựng được Cổng Giao tiếp điện tử, Thư viện điện tử, Website, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ.Khai thác trực tuyến nguồn tin của nước ngoài: một số cơ quan thông tin KH&CN đã thực hiện việc đặt mua các CSDL trực tuyến, tạp chí điện tử trực tuyến.
Thí dụ Trung Thông tin KHCN Quốc gia đã mua quyền truy cập đến các CSDL toàn văn của Science@Direct, EBSCO Host, Blackwell,. - Triển khai phục vụ thông tin bằng phương thức hiện đại: Bên cạnh việc duy trì các dịch vụ thư viện truyền thống, nhiều cơ quan đã áp dụng các hình thức dịch vụ hiện đại, tiên tiến: kho mở, mã vạch, cổng từ; khai thác qua mạng, phòng đọc đa phương tiện, liên kết trao đổi liên thư viện. Những phương thức này đã được xã hội đánh giá là bước tiến nhảy vọt.