CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ ÁP DỤNG CHO DNNVV (IFRS FOR SME) VÀ QUÁ TRÌNH HÒA HỢP CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 1. Tổng quan về DNNVV trên thế giới 1. Định nghĩa về DNNVV trên thế giới Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) là khu vực giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia. Nó cung cấp và tạo ra các cơ hội việc làm, đặc biệt trong thời kỳ suy thoái, đây là một nguồn lực chính để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
DNNVV không ngừng nỗ lực, sáng tạo, cạnh tranh và đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển về kinh tế trong tương lai. Trong ngắn hạn, các DNNVV thúc đẩy nền kinh tế thị trường trở nên năng động, phát triển mạnh mẽ và tạo sự vững chắc đối với bất cứ một quốc gia nào. Các DNNVV rất đa dạng và phong phú nên có nhiều cách khác nhau để xác định các DNNVV, chủ yếu về một số khía cạnh như số lượng nhân viên, doanh thu hàng năm, tổng giá trị tài sản,. Một số định nghĩa chung của các DNNVV: - Ngày 06 tháng 05 năm 2003, Ủy ban châu Âu (EC) đã thông qua Khuyến nghị 2003/361/EC về định nghĩa mới của DNNVV có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 (EC, 2003).6) cho rằng: “Điều quan trọng là các biện pháp có lợi cho các DNNVV được dựa trên một định nghĩa chung để cải thiện tính nhất quán và tính hiệu quả, và để hạn chế sự méo mó của cạnh tranh”.
EC định nghĩa DNNVV là doanh nghiệp trong đó sử dụng ít hơn 250 nhân viên với doanh thu hàng năm nhỏ hơn hoặc bằng 50 triệu Euro và tổng giá trị trên bảng cân đối hàng năm nhỏ hơn hoặc bằng 43 triệu Euro. Số lượng nhân viên là bắt buộc, tuy nhiên không bắt buộc phải đáp ứng đồng thời cả hai chỉ tiêu doanh thu và tổng giá trị trên bảng cân đối (EC, 2003). Điều này đảm bảo rằng DNNVV tham gia vào các loại hình kinh tế khác nhau đều được đối xử công bằng. - Ngân hàng Thế giới chỉ xác định mức tối đa để xác định DNNVV, không phân biệt doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
Theo quy định của Ngân hàng Thế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 giới, quy định số lượng nhân viên tối đa là 300 người, với doanh thu tối đa và giá trị tài sản là 15 triệu đô la Mỹ mỗi năm (Gibson và Vaart, 2008). - Trong Tập đoàn kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) cũng không có định nghĩa chung cho DNNVV. Ví dụ tại Úc, Cục Thống kê Úc (ABS) định nghĩa một doanh nghiệp nhỏ với mục đích thống kê là một doanh nghiệp có ít hơn 4 nhân viên. Một doanh nghiệp nhỏ được định nghĩa là một doanh nghiệp chủ động giao dịch có ít hơn 19 nhân viên, và một doanh nghiệp vừa là một doanh nghiệp có từ 20- 199 nhân viên (Department of Innovation Industry, Science, and Research (DIISR), 2011).
- Tại Canada, Công trình công cộng và các dịch vụ Chính phủ của Canada (PWGSC) định nghĩa DNNVV là doanh nghiệp có số nhân viên ít hơn 500 người. Ngưỡng cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa sản xuất là ít hơn 100 nhân viên và cho các doanh nghiệp dịch vụ là ít hơn 50 nhân viên (PWGSC, 2011). - Tại Hàn Quốc, Tổng công ty doanh nghiệp nhỏ (SBC) của Hàn Quốc định nghĩa doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 300 nhân viên với nguồn vốn là 8 triệu đô hoặc ít hơn cho các doanh nghiệp sản xuất, và ít hơn 50 nhân viên với doanh số trị giá 5 triệu đô hoặc ít hơn cho các doanh nghiệp khác. Họ phân loại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và siêu nhỏ với số lượng lao động tương ứng từ 10 đến 50 người (SBC, 2009).
- Singapore đã thông qua một định nghĩa mới cho DNNVV có hiệu lực từ 01 tháng 04 năm 2011, đó là một công ty có doanh thu bán hàng hàng năm không quá 100 triệu đô hoặc sử dụng ít hơn 200 công nhân (Spring, 2011). - Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) định nghĩa DNNVV là một doanh nghiệp mà số lượng nhân viên không quá 300 người và có quy mô vốn không quá 300 triệu Yên (Economist Intelligent Unit (EIU), 2010). - Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) không đưa ra một định nghĩa chính thức cho DNNVV mà ADB dựa vào định nghĩa của các quốc gia cụ thể. - Các nước Nam Á không có định nghĩa chung cho DNNVV, thay vào đó, các quốc gia khác nhau thông qua các định nghĩa DNNVV khác nhau được quyết định bởi các chỉ tiêu riêng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 - Tại Hoa Kỳ (Mỹ) có một cách tiếp cận khác để xác định DNNVV. Cục Quản lý Doanh nghiệp nhỏ (SBA) đã xây dựng tiêu chí riêng cho doanh nghiệp nhỏ (SBA, 2012). Đó là quy định về số lượng nhân viên hoặc doanh thu trung bình hàng năm, và được thiết lập cho mỗi ngành công nghiệp được mã hóa của Hệ thống phân loại Công nghiệp Bắc Mỹ (NAICS). Dựa trên các tiêu chí này, SBA đã thiết lập một tiêu chuẩn về số lượng nhân viên là 500 người cho hầu hết các ngành công nghiệp khai thác mỏ và sản xuất, với doanh thu trung bình hàng năm là 7 triệu đô cho hầu hết các ngành công nghiệp phi sản xuất (SBA, 2012).
- IASB đã thông qua một định nghĩa cho DNNVV khi IFRS cho DNNVV có hiệu lực vào tháng 07 năm 2009. Theo tiêu chuẩn, các DNNVV là các thực thể: không có trách nhiệm đại chúng, và công bố mục đích chung của báo cáo tài chính cho người sử dụng ở bên ngoài. Những người sử dụng bên ngoài bao gồm chủ sở hữu (không phải là người có liên quan trong việc quản lý kinh doanh), các chủ nợ hiện tại và tiềm năng, và các cơ quan xếp hạng tín dụng (IASB, 2009a, p. Định nghĩa DNNVV của IASB lỏng lẻo hơn so với các định nghĩa DNNVV được thông qua từ các khu vực pháp lý khác.
Tổ chức RSM quốc tế cho rằng: “Định nghĩa này tránh được việc kiểm tra định lượng và tiêu chí, thay vào đó, thông qua một nguyên tắc trách nhiệm đại chúng. IFRS cho DNNVV đã được thiết kế sử dụng cho một đơn vị điển hình là 50 nhân viên, không phải là một cách kiểm tra định lượng và tiêu chí để xác định DNNVV mà là để hỗ trợ cho Hội đồng quản trị đưa ra các tiêu chí trong việc xác định các loại giao dịch” (RSM International, 2009, p. Từ các định nghĩa DNNVV khác nhau cho thấy rằng không có sự thống nhất trong các định nghĩa của các DNNVV trên toàn cầu. Đặc biệt, định nghĩa của một DNNVV trong bối cảnh IFRS cho DNNVV là khác nhau đáng kể với hầu hết các nước.
Các nhà chức trách có thẩm quyền được phép quyết định những gì tạo nên một đơn vị hội đủ điều kiện được áp dụng IFRS cho DNNVV (IASB, 2009a). Tuy nhiên, sự không thống nhất giữa các định nghĩa chung của DNNVV với định nghĩa của IASB sẽ có vấn đề trong việc thực hiện IFRS cho DNNVV. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 Như vậy trên thế giới, định nghĩa về DNNVV được hiểu và quy định khác nhau tuỳ theo từng quốc gia, từng khu vực và chưa có sự thống nhất cả về không gian lẫn thời gian. Tiêu chí phân loại DNNVV trên thế giới Các tiêu chí để phân loại DNNVV có hai nhóm: định tính và định lượng.
- Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hoá thấp, quản lý ở mức độ ít phức tạp. Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế. - Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận.
Trong đó: Số lao động: số lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế; Tài sản hay vốn: tổng giá trị tài sản (vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại; Doanh thu: tổng doanh thu hằng năm, tổng giá trị gia tăng hằng năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này). Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động. Còn một số tiêu chí khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước. Tuy nhiên, sự phân loại DNNVV theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối, thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng lên.
Ví dụ như một doanh nghiệp có 400 lao động ở Việt Nam không được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng lại được tính là DNNVV ở CHLB Đức. Ở một số nước có trình độ phát triển kinh tế thấp, các chỉ số về lao động, vốn để phân loại DNNVV sẽ thấp hơn so với các nước phát triển. Tính chất ngành nghề: do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất, điện,. Do đó cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối chứng trong phân loại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 các DNNVV giữa các ngành với nhau.
Trong thực tế, ở nhiều nước, người ta thường phân chia thành hai đến ba nhóm ngành với các tiêu chí phân loại khác nhau. Ngoài ra, có thể dùng khái niệm hệ số ngành để so sánh đối chứng giữa các ngành khác nhau. Vùng lãnh thổ: do trình độ phát triển khác nhau nên số lượng và quy mô doanh nghiệp cũng khác nhau. Do đó cần tính đến cả hệ số vùng để đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh quy mô doanh nghiệp giữa các vùng khác nhau.
Tiêu chí phân loại DNNVV của một số quốc gia và khu vực (Phụ lục 1). Vai trò của DNNVV đối với các quốc gia trên thế giới DNNVV đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội ở các nền kinh tế đã phát triển và đang phát triển. DNNVV là những nhà cung cấp công ăn việc làm lớn nhất ở nhiều quốc gia, đặc biệt là tạo việc làm mới cho người lao động. Hơn nữa, đóng góp của DNNVV về sản lượng, công nghệ và sự đổi mới cũng đã được xác định một cách rộng rãi (Reddy, 2007; Chen, 2006; OECD, 2005).