phần mở đầu, luận văn gồm 2 chương (6 tiết), kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. Chương1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG ĐỘNG CƠ HÀNH VI KỶ LUẬT CHO HỌC VIÊN SỸ QUAN NGOẠI NGỮ Ở HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Quan điểm của các nhà kinh điển Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật quân sự * Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin Kỷ luật là một hiện tượng xã hội, có vai trò quan trọng không thể thiếu được trong quá trình tồn tại và phát triển của mọi tổ chức xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị sử dụng KL như một thứ vũ khí, công cụ, điều kiện cơ bản để tạo nên sức mạnh bảo vệ quyền lợi của mình và chống lại các giai cấp đối lập. Nghiên cứu qui luật của sự phát triển xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin đã nhấn mạnh đến hiện tượng KL và xem nó như một hiện tượng xã hội đặc biệt, là một hiện tượng xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, có tính tất yếu khách quan của sự tồn tại xã hội. KL là một thuộc tính khách quan, cơ bản của mọi tổ chức trong xã hội loài người, không có bất cứ một tổ chức xã hội nào có thể tồn tại mà không có KL. Kỷ luật được xem xét như là một trật tự hành vi nhất định của con người, như là một phương tiện tổ chức lao động cùng nhau giữa con người với con người.
Lịch sử loài người đã trải qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội khác nhau. Mỗi hình thái kinh tế xã hội lại có một kiểu KL đặc trưng riêng của nó, và được 6 quyết định bởi nội dung hoạt động lao động cũng như những đặc trưng của các mối quan hệ tồn tại trong xã hội đó. Và như vậy, theo đó quân đội với tính chất đặc thù trong hoạt động nghề nghiệp, muốn hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ của mình điều tất yếu phải sử dụng KL như một phương tiện tồn tại. Chính vì vậy, khi nói về KLQS, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin cho rằng, KLQS là hình thức đặc biệt của KL mà đặc trưng của nó được quyết định bởi tính chất hoạt động quân sự.
Nó đòi hỏi những con người trong đó tính tập trung cao, tính chính xác, tinh thần chấp hành nghiêm, sự tự chủ, tính khẩn trương trong mọi hành động của từng cá nhân và tập thể. KLQS nghiêm minh là điều kiện tất yếu và hoạt động của bất kỳ quân đội nào. Do vậy, có thể coi KLQS là chất liệu, vật liệu của sự chiến thắng, là linh hồn của sự phục vụ quân sự.Ăngghen đã quan niệm rằng KLQS như một phương tiện, biện pháp tất yếu của việc tổ chức các quân nhân, là một nhân tố cực kỳ quan trọng của sẵn sàng chiến đấu. Thiếu KL thì không thể có một quân đội nào thắng trận được.
Trong các tác phẩm của mình Ph.Ăngghen đã chỉ ra: Toàn bộ cuộc sống và hoạt động của quân đội được quy định một cách nghiêm khắc bởi điều lệnh, mệnh lệnh của người chỉ huy. Do vậy, hoạt động quân sự ấy phải được tổ chức chặt chẽ, có KL đặc biệt nghiêm minh.Ăngghen cho rằng khi một đội quân được quan tâm huấn luyện cẩn thận, chu đáo mọi người lính sống có KL có “Thói quen hành động cùng một lúc” [1, tr.350], thì sẽ tạo ra sức mạnh to lớn để chiến đấu và chiến thắng. Lênin đã xem xét KL và khẳng định KLQS là yếu tố quan trọng bậc nhất trong việc tăng cường, nâng cao năng lực sức mạnh chiến đấu của quân đội, là điều kiện tất yếu đạt được chiến thắng trong đấu tranh vũ trang. Từ việc đúc rút những kinh nghiệm thực tiễn đầy sinh động, Người đi đến kết luận: “Nếu suy nghĩ đến cùng, do nguyên nhân sâu xa nào mà có được cái kỳ tích lịch sử là một nước suy yếu, bị kiệt quệ và lạc hậu lại chiến thắng được những nước hùng cường nhất trên thế giới, thì chúng ta thấy rằng nguyên nhân đó là 7 chế độ tập trung, KL và tinh thần hy sinh chưa từng có” [16, tr.
Lênin cũng đặc biệt lưu ý, KLQS như là một hình thức chuyên biệt của mối quan hệ của các quân nhân và tập thể quân nhân. KLQS đã hợp nhất các nỗ lực của quần chúng thành một khối và biến quân đội cũng như các phần tạo thành của nó thành một cơ thể chiến đấu và được điều khiển một cách chính xác. Khi phân tích về KLQS, Lênin đã nhấn mạnh, KLQS được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của các quân nhân và tập thể quân nhân, trong giải quyết thực tiễn của các nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Lênin cũng đã khẳng định KLQS trở thành tự giác khi mà các quân nhân có được ý thức KL, có niềm tin vào KL và tích cực rèn luyện để nó trở thành máu thịt của người chiến sĩ, trở thành động lực thúc đẩy định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của nhân cách.
* Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh Thấm nhuần những tư tưởng của các nhà kinh điển Mác Lênin, kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm quý báu của cha ông ta trong quá trình tổ chức GD, RLKL cho binh sĩ dưới các triều đại phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, nhà chính trị kiệt xuất; đồng thời là nhà quân sự thiên tài, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, người sáng lập, GD và rèn luyện quân đội ta, trong quá trình tổ chức GD và rèn luyện quân đội, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng xây dựng quân đội về chính trị, tư tưởng. Đồng thời, Người cũng rất quan tâm đến việc xây dựng, củng cố nâng cao KLQĐ. Người coi đó là một trong những vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng của quân đội ta. Đề cập đến vai trò không thể thiếu của KL trong hoạt động quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bộ đội không có KL, đánh giặc nhất định thua” [30, tr.
Theo Người muốn nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, ngoài 8 việc không ngừng học tập chính trị, quân sự phải giữ thật nghiêm KLQS. Vì thế Người đã dạy: “Muốn nâng cao chí khí chiến đấu, cố nhiên là phải học tập chính trị và quân sự, phải giữ thật nghiêm KL. KL là sức mạnh của quân đội” [24, tr. Mặt khác, để quân đội có KL thật sự nghiêm minh, Người thường xuyên nhắc nhở phải chăm lo xây dựng tính KL tự giác cho tất cả các cán bộ, chiến sĩ, và KL phải xuất phát từ tính tự nguyện, trở thành niềm tin, nhu cầu không thể thiếu được, phải trở thành động lực thôi thúc, điều khiển, điều chỉnh mọi hành vi của từng cá nhân và của cả tập thể quân sự đáp ứng yêu cầu chuẩn mực của KL.
Trong GD KLQS Hồ Chí Minh quan tâm trước tiên đến vấn đề GD ý thức tổ chức KL cho cán bộ sĩ quan, cho thành phần cán bộ chủ trì trong từng đơn vị. Theo Người, sự gương mẫu về nhân cách và chấp hành nghiêm KL của đội ngũ cán bộ là tấm gương sáng, là điều không thể thiếu trong duy trì KL ở đơn vị cơ sở, đồng thời là động lực thôi thúc người chiến sĩ học tập làm theo, Người dạy: “Trong quân đội cách mạng, cán bộ làm gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sĩ, phải gương mẫu học tập và giữ KL” [30, tr. Về nội dung GDKL cho bộ đội phải toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm. Vì theo Bác mục đích của học tập là, tập trung vào các nội dung như: “Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao KL tự giác của bộ đội ta” [29, tr.
Vì vậy, nội dung GD không phải chỉ GD cho bộ đội những kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng chuyên ngành mà còn GD cho họ thấy được sự cần thiết của KL, từ đó có niềm tin vào tính tất yếu của KL, hình thành nhu cầu sống có KL, và trở thành động cơ thôi thúc, điều khiển, điều chỉnh hành vi chuẩn mực của bộ đội. Điều này có nghĩa là khi được giao nhiệm vụ, họ sẵn sàng thực hiện ngay mà không cần ngẫm nghĩ, đấu tranh động cơ nữa. Đồng thời, kết hợp huấn luyện trang bị tri thức quân sự, tri thức khoa học xã hội và nhân văn với tổ chức thực hành KLQS để xây dựng ĐCHVKL cho bộ đội. Bởi kiến thức về điều lệnh, điều lệ quân đội là cơ sở hành lang pháp lý bảo đảm sự thống nhất, sự hiệp đồng 9 chặt chẽ, sự ăn khớp nhịp nhàng trong mọi hoạt động học tập, rèn luyện, sẵn sàng chiến đấu của bộ đội.
Việc duy trì nghiêm túc các chế độ quy định của điều lệnh, điều lệ quân đội cũng như các qui định của đơn vị sẽ giúp bộ đội kìm bớt các hành động ngẫu hứng không phù hợp với yêu cầu của KL, tạo nên bước đột phá quan trọng để phát triển hành vi KL đúng đắn. Đây chính là phương tiện hình thành nhu cầu KL, tạo tiền đề cơ sở cho việc xây dựng ĐCHVKL cho bộ đội trong quá trình học tập, rèn luyện tại các đơn vị, các nhà trường. Bàn về phương pháp thực hành KL, Người nhấn mạnh việc dùng “vũ khí” phê bình và tự phê bình trong việc quản lý và duy trì chấp hành KL. Người dạy: “Người cán bộ muốn tốt thì phải có đạo đức cách mạng, phải biết phê và tự phê bình, phải biết KL” [25, tr.
Phương pháp nêu gương được Bác coi là biện pháp hữu hiệu trong hướng dẫn các hành vi gương mẫu về đạo đức và ý thức tổ chức KL cao, mà trước hết là sự gương mẫu về hành vi KL của cán bộ sĩ quan, của các thành phần tiên tiến trong đơn vị nhất là đội ngũ cán bộ, có như vậy mới làm cho chiến sĩ noi theo. Quá trình tiến hành các phương pháp GDKL, phải đưa chuẩn mực KL thành những nhu cầu hàng ngày của bộ đội.