Tổng quan luận án
Công tác tư tưởng là một hoạt động cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó hiệu quả vừa là mục tiêu, phương tiện, vừa là thước đo năng lực của chủ thể, mức độ chuyển biến của đối tượng và tính hợp lý của chi phí bỏ ra. Công tác giáo dục chính trị - tư tưởng (CTGDCT-TT) trong quân đội là một bộ phận trọng yếu của công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT), trực tiếp xây dựng bản lĩnh, niềm tin và phẩm chất chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Tại các học viện quân sự (HVQS) — nơi đảm nhiệm chức năng giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học — CTGDCT-TT giữ vai trò nền tảng nhằm đào tạo đội ngũ sĩ quan ưu tú.
Mặc dù các HVQS đã đạt được nhiều thành tựu, hiệu quả CTGDCT-TT trong học viên trên thực tế vẫn còn những điểm chưa tương xứng với mục đích xác định và nguồn lực đầu tư; nhận thức chính trị, niềm tin và tính tự giác của một bộ phận học viên vẫn còn hạn chế. Bối cảnh xây dựng quân đội trong thời kỳ mới cùng âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đặt ra yêu cầu cấp bách phải làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về hiệu quả CTGDCT-TT. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu mang tính hệ thống về bản chất hiệu quả, tiêu chí đánh giá gắn với nguồn lực và các giải pháp đặc thù dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng trong các HVQS.
Mục đích nghiên cứu
Luận giải, làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn hiệu quả CTGDCT-TT; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả CTGDCT-TT trong học viên các HVQS ở nước ta giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả CTGDCT-TT và hiệu quả CTGDCT-TT trong học viên các HVQS.
- Đánh giá thực trạng hiệu quả CTGDCT-TT trong học viên các HVQS những năm gần đây và xác định những vấn đề cần giải quyết.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả CTGDCT-TT trong học viên các HVQS ở nước ta hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả CTGDCT-TT trong học viên các HVQS.
- Phạm vi đối tượng: Học viên đào tạo cơ bản, dài hạn cán bộ cấp phân đội và cán bộ cấp chiến thuật - chiến dịch.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 5 học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng (BQP), gồm: Học viện Lục quân, Học viện Chính trị, Học viện Hậu cần, Học viện Quân y, Học viện Kỹ thuật Quân sự.
- Phạm vi thời gian: Số liệu và thực tiễn khảo sát, đánh giá được thu thập từ năm 2006 đến thời điểm thực hiện đề tài.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy vấn đề giáo dục chính trị - tư tưởng và hiệu quả công tác tư tưởng đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả:
| Hướng nghiên cứu / Nhóm tác giả |
Công trình / Tác giả tiêu biểu |
Luận điểm và đóng góp chính được ghi nhận |
| Nghiên cứu quốc tế (Liên Xô, Trung Quốc, phương Tây) |
- D. Vôn-cô-gô-nốp [190], V. Xu-khôm-lin-xki [195], X. Xu-rơ-ni-tren-cô [196] - Cục cán bộ - Ban Tuyên huấn TW ĐCS Trung Quốc [14], Lý Vĩnh Thắng [135] - Giáo trình Công tác chính trị QGPND Trung Quốc (1986) [12] - Tài liệu phương Tây về tuyên truyền [200], [201], [202] |
- Khẳng định giáo dục chính trị - tư tưởng nhằm xây dựng niềm tin, lý tưởng cộng sản; hiệu quả là sự tương quan giữa kết quả tác động và mục tiêu giác ngộ (Xô-viết). - Coi giáo dục chính trị - tư tưởng là linh hồn của giáo dục phẩm chất con người (Trung Quốc). - Phương Tây nghiên cứu kỹ thuật tuyên truyền chính trị (propaganda) và 4 phương pháp đo hiệu quả: thực nghiệm có kiểm soát, phân tích nội dung, quan sát thực tiễn, phỏng vấn nhóm lặp lại. |
| Lý luận công tác tư tưởng và hiệu quả (Trong nước ngoài quân đội) |
- Lương Khắc Hiếu (Chủ biên, 2008) [56], [57] - Vũ Ngọc Am [1] - Đào Duy Tùng [183], Đào Duy Quát [114] - Hà Học Hợi [69], Phạm Quang Nghị [103], Trần Thị Anh Đào [36] - Ban Tuyên giáo Trung ương (2008) [2] |
- Phân định nội hàm CTGDCT-TT với các hoạt động tư tưởng khác; xác định cấu trúc văn hóa chính trị gồm tri thức, niềm tin, tính tích cực chính trị - xã hội. - Định nghĩa hiệu quả công tác tư tưởng là tương quan giữa kết quả đạt được với mục đích và chi phí bỏ ra trong điều kiện xã hội nhất định. - Đề xuất hệ thống tiêu chuẩn đánh giá tinh thần và thực tiễn ở bình diện xã hội và cá nhân. |
| Nghiên cứu giáo dục chính trị trong quân đội |
- Tổng cục Chính trị (TCCT) [151], [163], [166] - Nguyễn Văn Cần [11], Cao Xuân Trung [173] - Trần Ngọc Tuệ [182], Trần Anh Kim [74] - Nguyễn Hồng Châu [12], Nguyễn Bá Dương [32], Hồ Viết Hải [51] |
- Làm rõ bản chất, nội dung công tác giáo dục chính trị tại đơn vị cơ sở và đào tạo tại nhà trường quân đội. - Khẳng định thước đo hiệu quả nằm ở nhận thức, thái độ, niềm tin và hành vi hoàn thành nhiệm vụ của quân nhân. - Bắt đầu gắn khái niệm hiệu quả với việc sử dụng tối ưu nguồn lực và chi phí vật chất, thời gian, nhân lực. |
| Tiếp cận khía cạnh kinh tế của hiệu quả |
- Nguyễn Đình Giao [51] - Nguyễn Văn Tạo [127] |
- Xác định công thức hiệu quả kinh doanh $H = K / C$ (Kết quả / Chi phí). - Tiếp cận hiệu quả bằng tỷ số giữa mục tiêu hoàn thành và nguồn lực được sử dụng thông minh. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Từ việc phân tích các tài liệu trên, luận án xác định 4 khoảng trống học thuật cần tập trung giải quyết:
- Về mặt lý luận: Khái niệm CTGDCT-TT chưa có sự thống nhất, dễ bị đồng nhất với các hoạt động khác của công tác tư tưởng; chưa có công trình phân tích chuyên sâu về bản chất hiệu quả CTGDCT-TT dưới mối quan hệ tương quan đồng thời giữa 3 yếu tố: kết quả, mục đích và chi phí (nguồn lực); chưa phân định ranh giới giữa tiêu chí đánh giá kết quả, chất lượng và tiêu chí đánh giá hiệu quả.
- Về mặt thực tiễn: Chưa có công trình nào khảo sát thực trạng khía cạnh kinh tế, việc sử dụng nguồn lực trong công tác tư tưởng tại các nhà trường quân đội; chưa phân tích thực trạng dựa trên sự tương quan giữa kết quả đạt được với mục đích và mức độ tiêu hao nguồn lực.
- Về mặt giải pháp: Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong các nghiên cứu trước thường mang tính nguyên tắc chung, thiếu tính đặc thù riêng cho môi trường học viện quân sự và chưa xuất phát từ góc độ tối ưu hóa nguồn lực.
- Về phạm vi và đối tượng: Các nghiên cứu quân sự trước đây thường tách biệt mảng giáo dục khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) chính khóa với công tác giáo dục chính trị thường xuyên tại đơn vị; chưa có công trình nào xem xét toàn diện cả hai loại hình này trên đối tượng học viên đào tạo cơ bản dài hạn theo chức vụ tại các HVQS.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích
Luận án được xây dựng trên nền tảng:
- Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới, vai trò quyết định của nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh cách mạng.
- Quan điểm, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị về công tác tư tưởng, CTĐ, CTCT và đổi mới giáo dục - đào tạo (đặc biệt là Chỉ thị 124-CT/QUTW năm 2011 của Thường vụ Quân ủy Trung ương).
- Khung phân tích hệ thống - cấu trúc về hiệu quả CTGDCT-TT: Luận án xác lập cấu trúc hiệu quả gồm 3 thành tố: Mục đích (chuẩn mực định hướng), Kết quả (sự chuyển biến thực tế về nhận thức, niềm tin, tính tích cực chính trị - xã hội) và Nguồn lực/Chi phí (nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện, thời gian). Bản chất hiệu quả là sự tương quan giữa kết quả đạt được so với mục đích đề ra trên cơ sở nguồn lực đã huy động và sử dụng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành:
- Phương pháp lý thuyết: Phân tích và tổng hợp, phương pháp lôgíc và lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa khoa học nhằm hệ thống hóa khái niệm, cấu trúc và tiêu chí đánh giá hiệu quả.
- Phương pháp thực tiễn (định tính và định lượng):
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Phân tích các mối liên hệ giữa chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp và phương tiện trong chỉnh thể CTGDCT-TT.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế bảng hỏi, phiếu khảo sát lấy ý kiến cán bộ, giảng viên và học viên tại các học viện.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia và tọa đàm khoa học: Phỏng vấn sâu đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ tuyên huấn, giảng viên lý luận chính trị và chỉ huy đơn vị.
- Phương pháp quan sát và tổng kết điển hình tiên tiến: Theo dõi các hoạt động chính trị chính khóa và sinh hoạt tư tưởng tại đơn vị cơ sở.
- Phương pháp thống kê và so sánh: Tổng hợp, đối chiếu số liệu báo cáo thực tế từ năm 2006 đến nay tại 5 học viện để đánh giá tương quan giữa chi phí nguồn lực và kết quả đạt được.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, văn bản chỉ đạo của BQP và TCCT.
- Báo cáo tổng kết công tác giáo dục chính trị, CTĐ, CTCT hàng năm của 5 học viện: Học viện Lục quân, Học viện Chính trị, Học viện Hậu cần, Học viện Quân y, Học viện Kỹ thuật Quân sự.
- Số liệu khảo sát thực tế về nhận thức chính trị, kết quả học tập các môn KHXH&NV, kết quả rèn luyện kỷ luật, chấp hành nhiệm vụ và nguồn lực bảo đảm tại 5 học viện từ năm 2006.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có kết cấu gồm phần Mở đầu, 4 chương (11 tiết), Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 tập trung khảo cứu hệ thống các tài liệu trong và ngoài nước về công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, khái niệm hiệu quả và các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng. Tác giả phân tích các hướng tiếp cận của các nhà khoa học Liên Xô, Trung Quốc, các học giả phương Tây về tuyên truyền chính trị, cũng như các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước thuộc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Trung ương và các viện nghiên cứu quân sự.
Chương này chỉ rõ những kết quả đã đạt được như việc khẳng định vai trò của công tác tư tưởng, bước đầu định nghĩa hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả, mục đích và chi phí. Đồng thời, chương 1 phân tích sâu sắc các hạn chế còn tồn tại trong y văn: thiếu sự thống nhất về khái niệm CTGDCT-TT, chưa khảo sát khía cạnh chi phí/nguồn lực một cách thực chất, tiêu chí đánh giá còn lẫn lộn giữa kết quả, chất lượng và hiệu quả, và chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện hiệu quả CTGDCT-TT trên đối tượng học viên các HVQS.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong học viên các học viện quân sự
Chương 2 xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh cho đề tài qua 3 nội dung trọng tâm:
-
Đặc điểm của học viện quân sự và học viên đào tạo cơ bản dài hạn:
- Về tổ chức: HVQS có nhiệm vụ kép là giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ theo chức vụ kết hợp trình độ học vấn. Cơ cấu tổ chức gồm Ban Giám đốc, các phòng/ban chức năng (Phòng Chính trị có Ban Tuyên huấn làm nòng cốt), các khoa giáo viên và đơn vị quản lý học viên (hệ quản lý học viên cấp trung, sư đoàn; tiểu đoàn quản lý học viên cấp phân đội).
- Về đối tượng: Học viên cấp phân đội (18–25 tuổi, đào tạo 4–6 năm, được tuyển chọn kỹ lưỡng, đã trải qua 6 tháng huấn luyện tân binh, quản lý theo 11 chế độ trong ngày và 3 chế độ trong tuần) có ưu thế sức trẻ, trí tuệ nhưng nhân cách chưa hoàn toàn ổn định. Học viên cấp chiến thuật - chiến dịch (28–35 tuổi, sĩ quan cấp thượng úy đến thiếu tá, có 6–10 năm kinh nghiệm công tác, đào tạo 1–2 năm) có bản lĩnh vững vàng nhưng chịu nhiều chi phối từ hậu phương gia đình và dễ nảy sinh tâm lý kinh nghiệm chủ nghĩa.
-
Đặc điểm CTGDCT-TT trong học viên các học viện quân sự:
- Chủ thể: Lực lượng đông đảo, chất lượng cao, tỷ lệ đảng viên gần 100%, có trình độ sau đại học cao và nghiệp vụ sư phạm; tuy nhiên một bộ phận cán bộ khoa học kỹ thuật có biểu hiện xem nhẹ công tác chính trị.
- Mục tiêu và hình thức: Mục tiêu chính trị rất cao; tồn tại song song hai loại hình giáo dục là giáo dục chính trị chính khóa (các môn KHXH&NV theo quy định của BQP, có tính trường lớp, quy chuẩn) và giáo dục chính trị tại đơn vị (học tập chuyên đề, sinh hoạt chính trị, thông báo thời sự, đọc báo nghe đài, ngày chính trị và văn hóa tinh thần theo quy chế của TCCT).
- Môi trường và không gian: Môi trường quân sự chính quy, kỷ luật nghiêm, tính dân chủ học thuật cao; tận dụng được nguồn lực từ các đô thị phát triển (Hà Nội, Đà Lạt) nhưng cũng chịu sức ép từ mặt trái kinh tế thị trường và lối sống tiêu thụ.
-
Bản chất và cấu trúc hiệu quả CTGDCT-TT:
- Luận án khẳng định hiệu quả CTGDCT-TT không đồng nhất với kết quả hay chất lượng. Kết quả chỉ phản ánh sản phẩm đầu ra; chất lượng phản ánh mức độ đạt được so với mục đích; còn hiệu quả là sự tương quan giữa kết quả đạt được so với mục đích đề ra trên cơ sở chi phí nguồn lực đã bỏ ra.
- Nguồn lực của CTGDCT-TT bao gồm các yếu tố hữu hình: nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và quỹ thời gian.
- Tiêu chí đánh giá hiệu quả gồm: mức độ chuyển biến về nhận thức chính trị, niềm tin chính trị và hành vi tích cực chính trị - xã hội của học viên đặt trong mối tương quan với mức độ huy động và sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực của học viện.
Chương 3: Thực trạng hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong học viên các học viện quân sự những năm gần đây
Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực tế tại 5 học viện quân sự từ năm 2006 đến thời điểm nghiên cứu:
- Đánh giá thực trạng kết quả đạt được về nhận thức, thái độ và hành động chính trị của học viên phân đội và học viên cấp chiến thuật - chiến dịch qua hai hình thức giáo dục chính khóa và thường xuyên tại đơn vị.
- Khảo sát thực trạng đầu tư, phân bổ và sử dụng các nguồn lực (nhân lực giảng dạy, cán bộ quản lý, ngân sách giáo dục chính trị, trang thiết bị nghe nhìn, hệ thống phòng Hồ Chí Minh, thư viện, thời gian học tập và rèn luyện).
- Phân tích tương quan giữa kết quả đạt được với mục đích và mức độ tiêu hao nguồn lực, chỉ ra các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; khái quát các mâu thuẫn chủ yếu cần giải quyết trong thực tiễn nâng cao hiệu quả CTGDCT-TT tại các HVQS.
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong học viên các học viện quân sự ở nước ta hiện nay
Trên cơ sở lý luận của Chương 2 và thực trạng ở Chương 3, Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng:
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực của các chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện CTGDCT-TT.
- Đổi mới, chuẩn hóa nội dung, chương trình, gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục chính trị chính khóa với giáo dục chính trị tại đơn vị, tránh trùng lặp, quá tải.
- Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương pháp giáo dục tích cực, tăng cường tính đối thoại, tranh luận khoa học và nêu gương.
- Khai thác, quản lý và sử dụng tối ưu, tiết kiệm các nguồn lực (kinh phí, phương tiện kỹ thuật số, cơ sở vật chất học đường) phục vụ CTGDCT-TT.
- Xây dựng môi trường văn hóa sư phạm quân sự lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục của nhà trường với đơn vị, gia đình và xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Hoàn thiện khái niệm và cấu trúc hiệu quả: Luận án làm sáng tỏ bản chất của hiệu quả CTGDCT-TT là sự tương quan biện chứng giữa 3 yếu tố: kết quả đạt được, mục đích xác định và nguồn lực sử dụng. Khẳng định mục đích là chuẩn mốc, kết quả là nội dung cốt lõi và nguồn lực là điều kiện bảo đảm cần được tối ưu hóa.
- Xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá khoa học: Bổ sung, hoàn thiện hệ thống tiêu chí, phương pháp và hình thức đánh giá hiệu quả CTGDCT-TT đặc thù cho đối tượng học viên các HVQS, phân biệt rõ ràng giữa đánh giá kết quả thuần túy, đánh giá chất lượng và đánh giá hiệu quả (có tính đến chi phí nguồn lực).
- Làm rõ tính đặc thù của môi trường học viện quân sự: Khái quát hóa các đặc điểm về chủ thể, đối tượng, môi trường kỷ luật - học thuật và sự vận hành song song của hai loại hình giáo dục chính trị (chính khóa và tại đơn vị) tác động đến hiệu quả công tác tư tưởng.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp
- Đánh giá thực trạng dựa trên tương quan kết quả - nguồn lực: Khảo sát toàn diện thực trạng CTGDCT-TT tại 5 học viện trực thuộc BQP từ năm 2006, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản giữa yêu cầu mục tiêu đào tạo ngày càng cao với phương thức phân bổ, khai thác nguồn lực thực tế.
- Hệ giải pháp tối ưu hóa tiềm năng: Đề xuất hệ thống giải pháp chuyên ngành công tác tư tưởng theo hướng phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của các HVQS, sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực vật chất, tinh thần và quỹ thời gian để nâng cao chất lượng chuyển hóa nhận thức thành niềm tin và hành vi chính trị cho học viên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn khảo sát trên hai nhóm đối tượng học viên đào tạo cơ bản dài hạn theo chức vụ (cán bộ cấp phân đội và cán bộ cấp chiến thuật - chiến dịch) tại 5 học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng (Lục quân, Chính trị, Hậu cần, Quân y, Kỹ thuật Quân sự), chưa mở rộng khảo sát các học viện thuộc quân chủng, binh chủng (Hải quân, Phòng không - Không quân, Biên phòng) hoặc các hệ đào tạo ngắn hạn, sau đại học, học viên dân sự và học viên quốc tế.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu so sánh hiệu quả CTGDCT-TT giữa các học viện quân sự trực thuộc BQP với các học viện thuộc quân chủng, tổng cục và các trường sĩ quan trong toàn quân.
- Nghiên cứu mô hình lượng hóa chi tiết hơn các chỉ số chi phí - nguồn lực vô hình (thời gian, tâm lý, năng lượng sư phạm) trong đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng tại các cơ sở đào tạo quân sự.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác lãnh đạo, chỉ huy tại các nhà trường quân đội: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ khoa học vững chắc giúp Đảng ủy, Ban Giám đốc và Phòng Chính trị các HVQS hoạch định chủ trương, tối ưu hóa phân bổ nguồn lực, nâng cao chất lượng CTGDCT-TT trong học viên.
- Đối với đội ngũ cán bộ chính trị và giảng viên: Là tài liệu nghiệp vụ tham khảo trực tiếp cho đội ngũ cán bộ quản lý học viên (chính trị viên, chủ nhiệm lớp), ban tuyên huấn và giảng viên giảng dạy KHXH&NV trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, tổ chức sinh hoạt chính trị tư tưởng tại đơn vị.
- Đối với công tác nghiên cứu và đào tạo học thuật: Tài liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành CTĐ, CTCT trong hệ thống nhà trường quân đội và chuyên ngành Khoa học công tác tư tưởng, Xây dựng Đảng tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền cùng các trường đại học, viện nghiên cứu ngoài quân đội.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "chất lượng" và "hiệu quả" trong CTGDCT-TT như thế nào?
Theo luận án, chất lượng phản ánh mức độ đáp ứng của kết quả đạt được so với mục đích đã xác định từ trước. Trong khi đó, hiệu quả là một phạm trù kinh tế - xã hội rộng hơn, biểu thị mối tương quan đồng thời giữa kết quả đạt được với mục đích đề ra và chi phí nguồn lực (nhân lực, kinh phí, phương tiện, thời gian) đã tiêu hao để đạt được kết quả đó. Không thể coi là có hiệu quả cao nếu đạt được kết quả tốt nhưng chi phí nguồn lực bỏ ra quá lớn hoặc gây lãng phí.
2. Hai loại hình CTGDCT-TT song song tồn tại ở các học viện quân sự là gì?
Đó là giáo dục chính trị chính khóa và giáo dục chính trị tại đơn vị:
- Giáo dục chính trị chính khóa: Hoạt động đào tạo trường lớp chính quy nhằm trang bị hệ thống tri thức CNMLN-TTHCM, đường lối của Đảng và các môn KHXH&NV theo chương trình chuẩn của BQP.
- Giáo dục chính trị tại đơn vị: Hoạt động giáo dục thường xuyên tại hệ, tiểu đoàn, đại đội nhằm quán triệt nghị quyết, chỉ thị, thông báo thời sự, học tập các chuyên đề hàng năm theo quy chế của TCCT và giải quyết kịp thời các vấn đề tư tưởng nảy sinh trong đời sống quân nhân.
3. Đối tượng khảo sát thực tiễn của luận án gồm những học viện nào và trong thời gian nào?
Luận án khảo sát thực tế tại 5 học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng, bao gồm: Học viện Lục quân, Học viện Chính trị, Học viện Hậu cần, Học viện Quân y và Học viện Kỹ thuật Quân sự. Dữ liệu khảo sát và số liệu thực tiễn được thu thập, đánh giá từ năm 2006 đến thời điểm thực hiện đề tài.
4. Nguồn lực của CTGDCT-TT được luận án xác định gồm những thành tố nào?
Nguồn lực của CTGDCT-TT là toàn bộ các yếu tố đầu vào được sử dụng để tạo ra kết quả giáo dục, bao gồm các thành tố hữu hình: nhân lực (đội ngũ cán bộ chính trị, giảng viên, cán bộ quản lý), kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất (phòng Hồ Chí Minh, thư viện, hội trường), phương tiện kỹ thuật dạy học và quỹ thời gian dành cho các hoạt động giáo dục chính trị.
Kết luận
Luận án là một công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Khoa học công tác tư tưởng, làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả CTGDCT-TT trong học viên các HVQS. Bằng việc tiếp cận theo hướng hệ thống - cấu trúc, tác giả đã khẳng định bản chất của hiệu quả là sự tương quan giữa kết quả, mục đích và nguồn lực sử dụng, từ đó khắc phục hạn chế của việc đồng nhất hiệu quả với chất lượng thuần túy. Khảo sát thực tế tại 5 học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng từ năm 2006 là cơ sở thực chứng vững chắc để luận án chỉ ra các mâu thuẫn cần giải quyết và đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện, có tính khả thi cao. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp quan trọng vào lý luận công tác tư tưởng của Đảng trong quân đội mà còn cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho công tác giáo dục, đào tạo sĩ quan hiện nay.