Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Hòa Bình sở hữu diện tích tự nhiên 4.662,53 km² với 11 đơn vị hành chính cấp huyện và 210 xã, phường, thị trấn. Đây là địa bàn sinh sống của hơn 832.000 người thuộc 6 dân tộc chính, trong đó đồng bào dân tộc Mường chiếm trên 63% dân số toàn tỉnh. Bước vào giai đoạn 2006 - 2015, trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đứng trước yêu cầu cấp thiết phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa xã hội. Thực trạng lúc bấy giờ cho thấy cơ sở vật chất văn hóa còn thiếu thốn, nhiều hủ tục ma chay, cưới xin rườm rà còn tồn tại ở vùng sâu vùng xa, trong khi các giá trị di sản truyền thống đứng trước nguy cơ mai một.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của đề tài là làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hòa Bình hoạch định chủ trương và chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2006 đến năm 2015. Đề tài đi sâu đánh giá khách quan những thành tựu đạt được, chỉ ra những mặt hạn chế, yếu kém và đúc rút bài học kinh nghiệm lịch sử phục vụ công tác lãnh đạo văn hóa trong thời kỳ mới.

Phạm vi nghiên cứu được xác định đồng bộ trên địa bàn toàn tỉnh Hòa Bình trong khung thời gian 10 năm, chia thành hai giai đoạn bản lề: 2006 - 2010 và 2011 - 2015. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp các cấp ủy Đảng hoàn thiện cơ chế quản lý văn hóa cơ sở, góp phần nâng cao tỷ lệ gia đình văn hóa đạt trên 80%, làng bản văn hóa đạt 65% và hoàn thiện trên 80% thiết chế văn hóa thể thao các cấp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin cùng Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa như một mặt trận trọng yếu, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng. Cơ sở lý luận của đề tài bắt nguồn trực tiếp từ đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiêu biểu là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII năm 1998 về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với 5 quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ và 4 nhóm giải pháp lớn.

Khung phân tích tiếp tục được củng cố bởi Nghị quyết Đại hội X năm 2006, Đại hội XI năm 2011 của Đảng và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung, phát triển năm 2011. Đề tài vận dụng mô hình phát triển văn hóa gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ xây dựng Đảng và tăng trưởng kinh tế, đồng thời làm rõ 4 khái niệm cốt lõi: Đời sống văn hóa cơ sở, Thiết chế văn hóa, Nếp sống văn minh và Xã hội hóa văn hóa thể thao.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống văn kiện chính thức của Trung ương Đảng, các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XIV năm 2005 và lần thứ XV năm 2010. Nguồn tư liệu thực tế bao gồm hàng trăm báo cáo tổng kết chuyên đề của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hòa Bình cùng dữ liệu thống kê từ 11 huyện, thành phố và 210 xã, phường, thị trấn trong giai đoạn 2006 - 2015.

Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic làm công cụ nghiên cứu chủ đạo. Phương pháp lịch sử giúp tái hiện chân thực, sinh động tiến trình ban hành chủ trương và triển khai hành động của Đảng bộ tỉnh qua từng mốc thời gian cụ thể. Phương pháp logic giúp khái quát hóa các sự kiện, phân tích mối liên hệ nhân quả và rút ra các bài học mang tính quy luật. Ngoài ra, nghiên cứu kết hợp các kỹ thuật phân tích số liệu thống kê, phương pháp so sánh đối chiếu và điều tra thực tiễn trên mẫu khảo sát diện rộng bao quát 100% đơn vị hành chính cấp huyện nhằm bảo đảm tính khách quan, chuẩn xác của các kết luận khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở có bước phát triển nhảy vọt về quy mô và độ bao phủ. Nếu như năm 2006 toàn tỉnh mới có 800 nhà văn hóa xóm bản, chỉ đạt tỷ lệ 38%, thì đến năm 2010 con số này đã tăng lên 1.450 nhà văn hóa, đạt tỷ lệ 72%, tương đương mức tăng trưởng 34% chỉ sau 5 năm thực hiện đề án hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng. Đến năm 2015, tỷ lệ xóm bản có nhà văn hóa đạt trên 80%, 100% các xã có điểm bưu điện văn hóa phục vụ người dân.

Thứ hai, phong trào văn nghệ quần chúng và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc đạt nhiều thành tựu vượt bậc. Đến năm 2010, toàn tỉnh đã thành lập được 1.974 đội văn nghệ thôn bản và 210 đội văn nghệ cấp xã, tổ chức thành công 9.734 buổi biểu diễn, phục vụ khoảng 2,8 triệu lượt người xem. Ngành văn hóa đã tiến hành kiểm kê, phân loại 176 di tích danh thắng với 37 di tích cấp quốc gia và 20 di tích cấp tỉnh, đồng thời bảo tồn thành công 9.968 chiếc cồng chiêng Mường quý giá lưu giữ trong nhân dân.

Thứ ba, việc thực hiện nếp sống văn minh trong cưới hỏi, tang ma và lễ hội tạo bước chuyển biến căn bản trong nhận thức cộng đồng. Đến năm 2010, 100% xã, phường, thị trấn đã hoàn thành quy hoạch khu nghĩa trang hợp vệ sinh và 100% trường hợp tử vong thực hiện đúng quy định báo tử. Thời gian tổ chức đám cưới được rút ngắn từ 2 - 3 ngày xuống còn 0,5 - 1 ngày, các thủ tục cưới hỏi giảm từ 4 - 6 bước xuống còn 2 bước chính là lễ hỏi và lễ cưới.

Thứ tư, công tác thông tin truyền thông và phong trào thể dục thể thao mở rộng nhanh chóng. Tỷ lệ người dân tập luyện thể dục thể thao thường xuyên tăng từ 18,8% năm 2006 lên 24,5% năm 2010 và đạt xấp xỉ 30% vào năm 2015. Hệ thống phát thanh đạt tỷ lệ phủ sóng 100% và truyền hình phủ sóng 95% diện tích toàn tỉnh. Báo Hòa Bình điện tử ra mắt từ năm 2007 đã thu hút hơn 4,4 triệu lượt truy cập từ độc giả tại 23 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến những thành công trên là sự lãnh đạo sát sao, kịp thời của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hòa Bình thông qua việc ban hành các văn bản chỉ đạo mang tính đột phá, điển hình là Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 31/7/2007 về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao. Chính sách này đã khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực vật chất và tinh thần trong nhân dân, huy động được hơn 40% vốn ngoài công lập đầu tư cho các sân tập và câu lạc bộ thể thao.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bức tranh phát triển toàn diện khi được tổng hợp qua bảng thống kê đối sánh các chỉ tiêu văn hóa giữa hai nhiệm kỳ Đại hội XIV và Đại hội XV, cũng như biểu đồ tăng trưởng số lượng gia đình văn hóa qua từng năm. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ rõ một số hạn chế: Mức đầu tư từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp văn hóa còn thấp, Hòa Bình thời kỳ này vẫn chưa xây dựng được Bảo tàng tỉnh, Nhà hát riêng hay Thư viện tổng hợp độc lập đạt chuẩn; phong trào ở một số cơ sở còn nặng về bệnh thành tích và thiếu tính bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch mạng lưới thiết chế văn hóa, thể thao đồng bộ. Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình cần phối hợp với Sở Xây dựng và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch bố trí quỹ đất sạch, phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% thôn bản có nhà văn hóa đạt chuẩn kỹ thuật, bảo đảm trang bị đầy đủ âm thanh, ánh sáng với mức hỗ trợ tối thiểu 15 - 20 triệu đồng mỗi cơ sở.

Thứ hai, đẩy mạnh cơ chế xã hội hóa nguồn lực văn hóa. Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố cần ban hành các chính sách ưu đãi thuế, đất đai nhằm thu hút các doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào các khu vui chơi giải trí, phấn đấu nâng tỷ trọng vốn huy động ngoài ngân sách cho lĩnh vực văn hóa, thể thao đạt mức 35% - 40% trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa cơ sở. Sở Nội vụ phối hợp với Trường Chính trị tỉnh tổ chức các khóa bồi dưỡng định kỳ hàng năm cho 100% cán bộ văn hóa xã, phường và các trưởng thôn, nghệ nhân dân gian, bảo đảm mỗi xã có ít nhất 1 - 2 cán bộ chuyên trách có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, số hóa và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần chủ trì lập hồ sơ khoa học đệ trình UNESCO công nhận Mo Mường và Nghệ thuật Chiêng Mường là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, đồng thời nhân rộng các mô hình lớp truyền dạy nghệ thuật dân gian tại các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn và Mai Châu trong giai đoạn 2016 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cấp ủy Đảng, chính quyền và các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở. Luận văn cung cấp mô hình chỉ đạo thực tiễn, kinh nghiệm ban hành nghị quyết chuyên đề và phương pháp triển khai phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phù hợp với địa bàn miền núi đa dân tộc.

Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu lịch sử, giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Lịch sử Đảng, Quản lý văn hóa, Xã hội học. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo phong phú với hệ thống số liệu chuẩn xác, làm rõ quá trình vận dụng đường lối văn hóa của Đảng vào một địa bàn cụ thể trong giai đoạn 2006 - 2015.

Nhóm thứ ba là đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở tại 210 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Cán bộ cơ sở có thể áp dụng trực tiếp các bài học kinh nghiệm về xây dựng quy ước làng văn hóa, tổ chức nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và duy trì hoạt động các câu lạc bộ văn nghệ, thể thao.

Nhóm thứ tư là các tổ chức xã hội, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa và du lịch cộng đồng. Dữ liệu khảo sát về 176 di tích và kho tàng văn hóa cồng chiêng Mường là cơ sở quan trọng để xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa bền vững, gắn kết bảo tồn di sản với phát triển kinh tế địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Thành tựu nổi bật nhất của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trong xây dựng đời sống văn hóa giai đoạn 2006 - 2015 là gì? Thành tựu lớn nhất là sự chuyển biến vượt bậc của hệ thống thiết chế văn hóa và phong trào xây dựng nếp sống mới. Tỷ lệ xóm bản có nhà văn hóa tăng mạnh từ 38% năm 2006 lên 72% năm 2010 với 1.450 công trình, tạo không gian sinh hoạt cộng đồng khang trang cho nhân dân.

Tỉnh Hòa Bình đã thực hiện những giải pháp nào để bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Mường? Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo kiểm kê và bảo tồn 9.968 chiếc cồng chiêng Mường, phục dựng nhiều lễ hội truyền thống như Lễ hội Khai Hạ Mường Bi, Lễ mừng cơm mới, đồng thời cấp kinh phí nghiên cứu các đề tài văn hóa lớn như sử thi Mo Mường và hỗ trợ nghệ nhân mở các lớp truyền dạy nghệ thuật chiêng.

Việc thực hiện nếp sống văn minh trong cưới hỏi, tang ma tại địa phương đạt kết quả cụ thể ra sao? Thực hiện Quyết định số 20/2007/QĐ-UBND của tỉnh, 100% xã phường đã có quy hoạch nghĩa trang hợp vệ sinh, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu như bón cơm cho người chết. Thời gian tổ chức tiệc cưới rút ngắn từ 2 - 3 ngày xuống còn 0,5 - 1 ngày, giảm thiểu tình trạng ăn uống lãng phí kéo dài.

Chính sách xã hội hóa văn hóa thể thao của tỉnh được triển khai thông qua văn bản nào? Chính sách được định hình then chốt qua Nghị quyết số 10-NQ/TU năm 2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Chỉ thị số 03/2012/CT-UBND năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh, giúp nâng số lượng câu lạc bộ thể thao lên 491 câu lạc bộ và huy động hiệu quả nguồn vốn ngoài ngân sách xây dựng hàng trăm sân tập.

Luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học chủ đạo nào? Luận văn kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm chủ đạo, tiến hành xử lý tư liệu văn kiện Đảng và báo cáo hành chính từ 11 huyện, thành phố cùng 210 xã, phường, kết hợp phân tích định lượng số liệu thực tiễn trong suốt giai đoạn 10 năm từ 2006 đến 2015.

Kết luận

  • Khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình khi vận dụng các Nghị quyết văn hóa của Trung ương vào điều kiện thực tiễn tỉnh miền núi.
  • Ghi nhận những bước phát triển vượt bậc về đời sống tinh thần của nhân dân, nâng tỷ lệ bao phủ nhà văn hóa xóm bản từ 38% lên trên 80% và tỷ lệ người tập thể thao đạt xấp xỉ 30%.
  • Bảo tồn vững chắc kho tàng di sản văn hóa truyền thống của 6 dân tộc anh em, tiêu biểu là 9.968 chiếc cồng chiêng Mường và hệ thống 176 di tích danh thắng.
  • Đúc kết 4 bài học kinh nghiệm sâu sắc về nâng cao nhận thức của cấp ủy Đảng, đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực, hoàn thiện quy chế dân chủ và đào tạo cán bộ cơ sở.
  • Định hướng nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2016 - 2020 là tiếp tục chuẩn hóa toàn diện thiết chế văn hóa, số hóa di sản và gắn kết văn hóa với phát triển du lịch bền vững.

Đóng góp lớn nhất của công trình là đã dựng lại bức tranh lịch sử chân thực, hệ thống hóa toàn bộ tư liệu và số liệu thực tiễn về công tác lãnh đạo văn hóa của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2006 - 2015. Kính mời các nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa và bạn đọc quan tâm tiếp tục khai thác toàn văn luận văn để ứng dụng vào công tác nghiên cứu khoa học cũng như thực tiễn hoạch định chính sách tại địa phương.