Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ VÀ KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH 1. Một số vấn đề chung về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm đời sống văn hóa Khi nghiên cứu và tìm hiểu về đời sống văn hóa có thể thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đề cập đến khái niệm đời sống văn hóa ở nước ta dưới chế độ mới.
Ngay từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, Bác đã nhận thấy tầm quan trọng của việc nâng cao đời sống mới cho nhân dân mà nội hàm có thể hiểu tương đương với khái niệm “đời sống văn hóa” hiện nay. Khái niệm “đời sống mới” của Người bao gồm “đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới”. Ba nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu, gắn liền với lối sống và nếp sống. Đồng thời, phải dựa trên nền tảng đạo đức mới thì mới xây dựng được lối sống mới, nếp sống mới lành mạnh, hướng con người tới tầm cao của văn hoá, của một đất nước độc lập và xã hội chủ nghĩa [35; tr.
Từ góc độ khoa học, đời sống văn hóa là khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và lý giải nhằm làm rõ nội hàm của nó. Bên cạnh đó muốn làm tốt công tác XDĐSVH ở cơ sở, phải nghiên cứu và hiểu những nội dung bản chất của khái niệm đời sống văn hóa. Các nhà nghiên cứu cho rằng: ‘‘đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống con người nói chung, nhưng là một bộ phận đặc biệt bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống con người". Theo họ ‘‘phải hiểu đời sống văn hóa theo nghĩa rộng, không bó hẹp tính văn hóa vào một số lĩnh vực đời sống nào đó mà coi đời sống văn hóa là một khái niệm rộng rãi, bao quát mọi 13 mặt của đời sống xã hội: sản xuất, trao đổi, tiêu dùng, nhận thức, sáng tạo" [25; tr.
Đồng thời cho rằng cần nói tới nghĩa hẹp hơn của đời sống văn hóa “đó là lĩnh vực đời sống con người có liên quan tới sự hưởng thụ và sáng tạo những sản phẩm văn hóa". Qua đó một số nhà nghiên cứu có quan niệm về đời sống văn hóa như sau: Đời sống văn hóa là một tổng hợp những yếu tố vật thể văn hóa, nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa của con người, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành lối sống của con người trong xã hội [20; tr. Tiếp cận từ góc độ nhu cầu của con người, các nhà nghiên cứu của Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cũng đưa ra một quan niệm riêng về đời sống văn hóa: Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội là một phức thể các hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó. Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh thần thì giúp cho con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hóa 26; tr.
Cũng tiếp cận từ góc độ nhu cầu của con người với những hoạt động văn hóa trong đời sống, GS. Hoàng Vinh và nhà nghiên cứu Hà Huy Bích xem xét đời sống văn hóa một cách rõ nét hơn. Nhà nghiên cứu Hà Huy Bích cho rằng: nói đến đời sống nói chung và đời sống văn hóa nói riêng, tức là nói đến nhu cầu, hoạt động, kết quả của hoạt động và tiêu dùng những kết quả ấy. Ông cũng chỉ ra, bản chất của đời sống văn hóa thể hiện 14 chủ yếu ở hai quan hệ cơ bản của con người, là quan hệ tự nhiên và quan hệ xã hội và ở hai hoạt động cơ bản, là hoạt động cải tạo tự nhiên và hoạt động cải tạo xã hội, trên cơ sở đó cải tạo cả bản thân mình [50; tr.
Có thể nhận thấy, đời sống văn hóa không thuộc về lĩnh vực tinh thần thuần túy mà bao hàm cả hai lĩnh vực: vật chất và tinh thần. Khi nói đời sống văn hóa vật chất hay đời sống văn hóa tinh thần chính là nhấn mạnh đến một trong hai thành tố quan trọng, cấu thành nên đời sống văn hóa trong từng trường hợp cụ thể. Trên thực tế, không thể tách bạch hai yếu tố vật chất và tinh thần, bởi chúng luôn xuyên thấm và tác động lẫn nhau. Phần lớn các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng: “Thiếu điều kiện vật chất thì không có sự tồn tại của con người, nhưng thiếu điều kiện tinh thần thì xã hội không thể phát triển được” [50; tr.
Tác giả Hoàng Vinh cũng cho rằng, đời sống văn hóa gắn liền với những nhu cầu cơ bản của con người. Ông chỉ rõ, đời sống của con người gắn liền với hai nhu cầu thiết yếu là vật chất và tinh thần, được nảy sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, là cơ sở hình thành nhu cầu văn hóa- thể hiện khía cạnh chất lượng của trình độ đáp ứng nhu cầu. Đồng thời phân biệt rõ, mặc dù nhu cầu văn hóa là biểu hiện của nhu cầu tinh thần, nhưng không thể đồng nhất nhu cầu văn hóa với nhu cầu tinh thần. Trong đời sống của cộng đồng, có nhiều phong tục, tập quán xuất phát từ nhu cầu tinh thần của cư dân, nhưng không thể coi đó là nhu cầu văn hóa, chỉ những bộ phận nhu cầu tinh thần hướng tới các giá trị cao cả, sự đáp ứng các nhu cầu này, sẽ góp phần phát triển con người theo hướng nhân bản hóa mới được xem là nhu cầu văn hóa.
Trên cơ sở các phân tích về nhu cầu văn hóa, hoạt động văn hóa, sản phẩm văn hóa, gắn với con người là chủ thể sáng tạo ra thế giới sản phẩm văn hóa, tác giả đã chỉ rõ cấu trúc của đời sống văn hóa bao gồm ba yếu tố: sản phẩm văn hóa, thể 15 chế văn hóa, các dạng hoạt động văn hóa và những con người văn hóa [50; tr,262-268]. Ông cho rằng: Đời sống văn hóa bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó). Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức sinh hoạt văn hóa hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh [50; tr. Từ góc nhìn hoạt động văn hóa, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thức cho rằng: “Đời sống văn hóa là quá trình diễn ra sự trao đổi thông qua các hoạt động văn hóa nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người” [46; tr.
Như vậy có thể thấy, từ các góc độ tiếp cận khác nhau sẽ có những quan điểm khác nhau về khái niệm đời sống văn hóa. Từ thực tế nghiên cứu, dựa trên những luận điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả luận văn cho rằng: "đời sống văn hóa gắn liền với cộng đồng dân cư, trong một không gian địa lý nhất định, nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hoá của cộng đồng, hướng đến các giá trị văn hóa đích thực". Khái niệm đời sống văn hóa cơ sở Có thể cho rằng, khái niệm đời sống văn hoá ở cơ sở được ghép từ hai nội dung là đời sống văn hoá và cơ sở. Trong phần vừa trình bày tác giả luận văn đã đề cập đến khái niệm đời sống văn hoá.
Vậy khái niệm cơ sở có thể hiểu như thế nào? Thực tế thì đơn vị cơ sở là hình thức tổ chức cơ bản của xã hội, chủ thể là những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong sinh hoạt về đời sống vật chất và đời sống tinh thần diễn ra hàng ngày. Hiện nay, hệ thống 16 hành chính nước ta được chia làm 3 cấp: tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thành phố, thị xã, quận, huyện; xã, phường, thị trấn. Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ V (1982) khi đề cập đến vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đã khẳng định đối tượng của việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở bao gồm những nội dung được đề cập đến như: “Một trong những nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng đời sống văn hóa ở cơ sở, đảm bảo mỗi nhà máy, công trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường, ấp đều có đời sống văn hóa” [65].
Đây là căn cứ để xác định đơn vị cơ sở được hình thành qua hai loại hình thức tổ chức. Thứ nhất là liên quan đến địa bàn cư trú của các hộ gia đình người dân được tồn tại ở 3 dạng như: Làng, bản, ấp, sóc.; khu phố chủ yếu ở đô thị; khu tập thể được hình thành bên cạnh các đơn vị sản xuất và các đơn vị hành chính sự nghiệp… Thứ hai là loại hình không liên quan đến địa bàn cư trú của gia đình đó là đơn vị hành chính, sự nghiệp, sản xuất kinh doanh, các đơn vị an ninh, quốc phòng. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thức viết: Đối tượng xây dựng đơn vị văn hóa cơ sở là các tổ chức dân cư, các tổ chức nhà nước và các tổ chức kinh tế - xã hội thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thực hiện việc liên kết các thành viên xã hội với nhau tiến hành các nhiệm vụ cụ thể trên địa bàn cấp hành chính cơ sở” [46; tr. Như vậy đời sống văn hóa ở cơ sở là các hoạt động phản ánh toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của con người nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa để duy trì, bảo tồn những giá trị chuẩn mực và tốt đẹp mà con người hướng tới.