Chương 1 XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về cán bộ Từ xưa đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về cán bộ của các nhà khoa học, đặc biệt là trong triết học, C. Mác và Ănghen cũng đã bàn về “cán bộ” nhưng chưa sâu, chưa rõ ràng và cụ thể do lúc đó chưa có giai cấp vô sản nào giành được chính quyền nhưng các ông cũng cho thấy rõ những quan điểm của mình về “cán bộ”: Theo đó, người cán bộ lãnh đạo là người tiêu biểu cho lý tưởng cách mạng, có lẽ sống, có tri thức toàn diện và uyên thâm của thời đại mình.
Những tri thức đó có thể trở thành hành động cách mạng đưa cách mạng phát triển đúng hướng khi gắn liền và thống nhất với lý tưởng, lẽ sống và lòng trung thực, tính kiên nghị, tự nguyện tham gia vào hàng ngũ những người chiến sỹ cách mạng. Phát hiện, lựa chọn, đào tạo, rèn luyện nhà cách mạng chủ yếu là qua phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng. Lý tưởng, lẽ sống, lòng trung thành, năng lực của nhà cách mạng phải được xem xét qua thử thách mất còn trong cuộc đấu tranh cách mạng ấy. Tri thức của người cách mạng không chỉ dừng ở việc nhận thức và giải thích thế giới mà mục đích cuối cùng là cải tạo thế giới.
Đối với họ không chỉ coi trọng tri thức lý luận mà còn cần có các tri thức khác, đặc biệt là tri thức đấu tranh cách mạng. Yêu cầu cơ bản của người cách mạng, trước hết là phải có sự tín nhiệm của nhân dân, không chỉ bằng tài năng của mình mà còn đòi hỏi họ phải có lòng trung thực, tình cảm và ý chí cách mạng, tính kiên quyết để thực hiện lý tưởng cách mạng. 11 Hồ Chí Minh coi “cán bộ là gốc của mọi công việc” “công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém”. Đều đó cho thấy tầm quan trọng của cán bộ và đồng thời cũng nói lên một đều hiển nhiên là nếu có cán bộ tốt, thì mọi việc sẽ thành công và ngược lai nếu là cán bộ kém thì chắn chắn là công việc đó sẽ thất bại cho nên để xây dựng đường lối đúng đắn thì điều kiện tiên quyết là cần phải có những cán bộ tốt phù hợp với công việc thì mới có khả năng sẽ đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi.
Theo các nhà nghiên cứu, thuật ngữ cán bộ được bắt nguồn từ Trung Quốc và được du nhập vào nước ta khá sớm, được sử dụng phổ biến vào thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Ban đầu thuật ngữ cán bộ được dùng nhiều trong quân đội, để phân biệt với người chiến sỹ với người lãnh đạo các cấp trong quân đội. Sau đó thuật ngữ cán bộ được dùng để chỉ những người thoát ly khỏi nông nghiệp để hoạt động kháng chiến. Trong thực tiễn cách mạng nước ta trước đây, từ cán bộ thường được nhân dân gọi với ý nghĩa trân trọng, tự hào và kính phục, nhất là đối với những chiến sỹ cách mạng, lớp người gắn bó với nhân dân, phục vụ sự nghiệp cao cả đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ Quốc.
Sau khi giành được chính quyền, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, có lúc cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong bộ máy cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, nhà máy, xí nghiệp nhà nước, lực lượng vũ trang. Cách hiểu này xuất phát từ chỗ, các đối tượng này có điểm chung là những người được hưởng lương từ ngân sách. Khi kê khai lý lịch cán bộ, đối tượng này thường khai nghề nghiệp là cán bộ; hàng ngày nhân dân thường gọi những người đó là cán bộ để phân biệt với người dân bình thường. Sau khi Nhà nước có hệ thống ngạch bậc lương cán bộ, công nhân viên, cũng có nhà nghiên cứu cho rằng, trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi là những người có ngạch từ cán sự trở lên để phân biệt với nhân viên ở ngạch dưới cán sự.
Thực chất ở đây, quan niệm này đã thể hiện cách hiểu phổ 12 biến nhất rằng cán bộ là những người có trách nhiệm, quyền hạn trong lãnh đạo, quản lý, điều hành trong một tổ chức, cơ quan, đơn vị. Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì: Cán bộ là người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước. Cán bộ là người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước. Theo như khái niệm của Nguyễn Như Ý thì cán bộ gồm có hai nghĩa, đó chính là người được làm việc trong cơ quan nhà nước và cũng là người giữ những chức vụ trong những cơ quan đó phân biệt rõ ràng với những người bình thường không giữ những chức vụ trong các cơ quan nhà nước.
Để hiểu sâu hơn về khái niệm về cán bộ thì ta sẽ đi tìm một khái niệm về cán bộ rõ nghĩa hơn khái niệm của Nguyễn Như Ý đó là khái niệm của Viện Ngôn Ngữ học đưa ra do Nhà Xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2000 và theo khái niệm của Viện Ngôn ngữ thì cán bộ là: Cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước. Cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị. Cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ. Đoàn kết giữa cán bộ và chiến sĩ.
Họp cán bộ và công nhân nhà máy. Làm cán bộ đoàn thanh niên. Như vậy ở đây thì Viện Ngôn ngữ học đã đưa ra một khái niệm về cán bộ hết sức rõ ràng, dễ hiểu. Cán bộ ở đây có nghĩa là những người có chuyên môn nghiệp vụ được làm việc trong các cơ quan nhà nước, cũng là người giữ những chức vụ trong cơ quan nhà nước và phân biệt rõ ràng với những người bình thường.
Nhà nước ta cũng có khái niệm rất là cơ bản và dễ hiểu về cán bộ như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực 13 thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp Huyện), trong biên chế hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Từ những khái niệm cơ bản trên đây, có thể hiểu về cán bộ như sau: Một là, cán bộ là những người làm việc trong cơ quan của Nhà nước, Đảng, đoàn thể, các doanh nghiệp Nhà nước, lực lượng vũ trang… từ Trung ương đến địa phương. Hai là, cán bộ là những người giữ những chức vụ nào đó trong cơ quan, tổ chức nhà nước. Qua đó ta có đưa ra khái quát về cán bộ như sau: Cán bộ là những người công dân Việt Nam, được làm trong cơ quan nhà nước và giữ những chức vụ hoặc có vai trò nhất định trong hệ thống tổ chức, có tác động ít nhiều đến hoạt động của tổ chức, đồng thời góp phần cho tổ chức ngày càng phát triển và những cán bộ đó được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Khái niệm cán bộ chủ chốt cấp xã Theo V.Lênin, người tiếp tục kế thừa và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác, trong một giai đoạn mới, ông đặc biệt coi trọng việc tuyển chọn, xây dựng một đội ngũ những nhà cách mạng chuyên nghiệp cho phong trào vô sản. Lênin đã viết: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”[1]. Đó là những cán bộ nòng cốt đầu tiên của Đảng Bolshevik (Nga). Để đấu tranh giành chính quyền thì vấn đề đội ngũ cán bộ là hết sức quan trọng và cấp bách.
Theo đó thì năm 1922, Lênin đã nói như sau: “Nghiên cứu con người tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt; nếu không thể thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định chỉ là mớ giấy lộn”. 14 Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2002, chủ chốt là tính từ chỉ: "Quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt". Như vậy, nói chủ chốt là nói đến quan hệ trong một tập hợp nhất định có nhiều phần tử, nhiều đối tượng và vị trí, tính chất của những phần tử, đối tượng trong tập hợp ấy.
Trong Giáo trình Xây dựng Đảng về tổ chức, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật 2013, có nói rằng cán bộ chủ chốt là người đứng đầu quan trọng nhất, có tác dụng chi phối chính toàn bộ hoạt động của tổ chức. Từ những nội dung trình bày nêu trên, có thể hiểu trong mỗi tổ chức, mỗi đơn vị có nhiều cán bộ, mỗi cán bộ có vị trí, trách nhiệm, quyền hạn khác nhau, theo phân công, phân cấp nhất định cho nên cán bộ chủ chốt là người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giao. Do đó, số lượng cán bộ trong mỗi địa phương, đơn vị nói chung là nhiều. Vì vậy, việc xác định tính chủ chốt, vị trí chủ chốt là có tính tương đối.
Hay nói cách khác cán bộ chủ chốt là chủ chốt trong một phạm vi nhất định, một đội ngũ cán bộ nhất định nào đó. Cán bộ chủ chốt cấp xã là khái niệm rất rộng và cũng như là có rất nhiều quan điểm khác nhau bàn về nó. Tuy nhiên, nội hàm khái niệm được thống nhất ở mấy điểm sau: Là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác. Là người đề ra các quyết định và tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên giao.