Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm 4 chương với 12 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về đạo đức môi trƣờng và xây dựng đạo đức môi trƣờng 1.
Các công trình nghiên cứu lý luận về đạo đức môi trường Ở nước ta trong những năm gần đây các nhà khoa học đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đạo đức môi trường. Bước đầu các tác giả mới chỉ kịp chủ yếu tập trung đề cập đến đạo đức môi trường mà chưa nghiên cứu sâu về xây dựng đạo đức môi trường. Những nội dung cơ bản của các công trình nghiên cứu đó là như sau: Thứ nhất, về tầm quan trọng của đạo đức môi trường Đạo đức môi trường có vai trò quan trọng trong điều chỉnh nhận thức, hành vi và cách ứng xử của con người với môi trường. Các bài Tư tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay [85] của tác giả Nguyễn Văn Thanh (2012), hay Phật giáo với đạo đức lối sống xanh [91] của tác giả Hoàng thị Thơ (2017) đều khẳng định: đạo đức môi trường đã trở thành chủ đề được bàn đến tại nhiều hội thảo khoa học và có vị trí nhất định trong nhiều lĩnh vực khoa học, đồng thời đạo đức môi trường được nhìn nhận như một biện pháp hữu hiệu nhằm điều chỉnh một cách tự giác hành vi của con người.
“Để có sự phát triển bền vững, còn phải bổ sung vào lý luận đạo đức nội dung mới là đạo đức sinh thái, đồng thời nâng cao đạo đức sinh thái cho con người trên hành tinh hiện nay” [85; tr. Đạo đức môi trường tập trung vào việc nâng cao vai trò của con người một cách tự giác và tự nguyện với việc phát huy cao nhất trách nhiệm của con người trong bảo vệ môi trường [91; tr. Thứ hai, về khái niệm đạo đức môi trường Thuật ngữ đạo đức môi trường ra đời vào khoảng nửa đầu thế kỷ XX từ những vấn đề bức xúc của thực tiễn, các vấn nạn môi trường. Xung quanh thuật ngữ này còn nhiều tranh luận.
Thực tế là hiện có không nhiều các nghiên cứu về đạo đức 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com môi trường hay đạo đức sinh thái. Tùy vào từng mối quan tâm nghiên cứu riêng, các tác giả đã tiếp cận khái niệm “đạo đức môi trường” ở những góc độ khác nhau. Trong Báo cáo tổng kết đề tài Giáo dục đạo đức môi trường cho học sinh trung học cơ sở [11] của tác giả Dương Quang Ngọc (2009); Đạo đức sinh thái và việc giáo dục đạo đức sinh thái cho cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay [39] của tác giả Vũ Trọng Dung (2004); Môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường [52] của tác giả Lê Văn Khoa (chủ biên, 2009); Bảo vệ môi trường từ góc độ đạo đức [76] của tác giả Nguyễn Văn Phúc (2010); và Đạo đức môi trường [78] của cùng tác giả Nguyễn Văn Phúc (2013); Đạo đức sinh thái trong hoạt động khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững [100] của tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm (2005); Đạo đức môi trường ở nước ta lý luận và thực tiễn [19] của tác giả Vũ Dũng (2011) đã khẳng định những nội dung cơ bản sau: Một là, đạo đức môi trường được hình thành trong quá trình con người tác động vào tự nhiên, do vậy con người cần ứng xử sao cho hài hòa, thân thiện với môi trường tự nhiên. Hai là, đạo đức môi trường là một dạng cụ thể của đạo đức xã hội, đạo đức môi trường giữ vai trò điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, định hướng nhận thức và hành vi của con người đối với giới tự nhiên.
Về mặt khái niệm các tác giả đã có những định nghĩa khác nhau về đạo đức môi trường: Dưới góc độ triết học, tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm đã khẳng định: Đạo đức môi trường là ý thức, quan niệm, tư tưởng, tình cảm đạo đức; là những quan hệ của con người với tự nhiên; là những nguyên lý, nguyên tắc, chuẩn mực quy định, điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình biến đổi và cải tạo thiên nhiên nhằm phục vụ sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội trong những điều kiện xã hội - tự nhiên nhất định [96; tr. Dưới góc độ tâm lý học tác giả Vũ Dũng khẳng định: Đạo đức môi trường là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành vi của mình với môi trường sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội và với sự phát triển môi trường một cách bền vững, thể hiện sự tôn trọng của con người đối với môi trường [19; tr. Cuốn giáo trình Đạo đức môi trường [78] của tác giả Nguyễn Văn Phúc (2013) và bài Bảo vệ môi trường từ góc độ đạo đức [76], cũng của tác giả Nguyễn Văn Phúc (2010) đều khẳng định: Đạo đức môi trường là một phương diện của đạo đức nói chung, là một hệ thống các chuẩn mực đạo đức điều chỉnh quan hệ giữa con người (xã hội) và tự nhiên vì sự phát triển bền vững. Theo tác giả, cơ sở và thực chất của đạo đức môi trường là giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong khai thác và bảo vệ môi trường tự nhiên.
“Đạo đức môi trường. là sự thể hiện và thực hiện đạo đức của con người, loài người trong lĩnh vực quan hệ giữa con người với tự nhiên” [76; tr. Dưới góc độ tiếp cận về hình thức biểu hiện, tác giả Hồ Sĩ Quý (2005) trong bài Về đạo đức môi trường [81] đã khẳng định lại quan điểm của Aldo leopold về đạo đức học môi trường, trong đó có ý: “Một hành động chỉ được coi là thiện nếu nó nhằm bảo vệ sự toàn vẹn, ổn định và vẻ đẹp của cộng đồng sinh vật; ngược lại thì là sai lầm”. Tác giả còn đề cập đến một số quan niệm đạo đức môi trường bao gồm: đạo đức duy sinh vật (Biocentric Ethics) gắn liền với tên tuổi của Paul W.
Taylor và đạo đức duy sinh thái (Ecocentric Ethics) gắn liền với tên tuổi của Arne Naess. Tác giả cho rằng, trong từng lĩnh vực khoa học cụ thể đề cập đến vấn đề đạo đức môi trường ở giác độ tiếp cận khác nhau, đạo đức môi trường định hướng hành vi và nhận thức của con người về một thế giới đang kêu cứu và cần những hành động cụ thể để bảo vệ trái đất này. Thứ ba, về kết cấu của đạo đức môi trường Đạo đức môi trường phản ánh những yêu cầu của xã hội đối với cá nhân đồng thời phản ánh năng lực tự ý thức cao của cá nhân và các chủ thể xã hội trong việc bảo vệ tài nguyên, môi trường, phát triển bền vững. Trong các bài Đạo đức sinh thái từ lý luận đến thực tiễn [96] của tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm (1999) và Đạo đức sinh thái trong hoạt động khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com môi trường vì sự phát triển bền vững [100] của cùng tác giả này (2005); Xây dựng ý thức sinh thái – yếu tố bảo đảm cho sự phát triển lâu bền [10] của tác giả Phạm Văn Boong (2001) và Đạo đức môi trường và chủ nghĩa vị lợi [46] của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương (2016) đều khẳng định: “Đạo đức sinh thái (đạo đức môi trường) là một dạng của đạo đức.
Về mặt cấu trúc, đạo đức sinh thái cũng bao gồm phần lý thuyết và phần thực tiễn: đó là ý thức, quan niệm, tư tưởng, tình cảm đạo đức; là những quan hệ của con người đối với tự nhiên; là những nguyên lý, nguyên tắc, chuẩn mực quy định, điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình biến đổi và cải tạo thiên nhiên nhằm phục vụ sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội trong những điều kiện xã hội - tự nhiên nhất định” [96; tr. Về mặt lý luận, đạo đức môi trường nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với tự nhiên từ phương diện đạo đức nhằm xác lập nên những chuẩn mực đạo đức định hướng cách thức ứng xử của con người với giới tự nhiên. Về mặt thực tiễn, đạo đức môi trường góp phần điều chỉnh hành vi con người trong ứng xử với giới tự nhiên nhằm giảm thiểu những tác hại môi trường do các hoạt động của con người gây ra. Như vậy, về thực chất đạo đức môi trường là mối quan tâm tới thái độ của con người và ảnh hưởng của con người đối với sinh giới [46; tr.
56] Về cơ bản đạo đức môi trường gồm có hai bộ phận hợp thành cơ bản là ý thức đạo đức môi trường và hành vi đạo đức môi trường: Một là, ý thức đạo đức sinh thái là sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên (các yếu tố của tự nhiên và quy luật hoạt động của chúng), về vị trí vai trò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên và về trách nhiệm, nghĩa vụ của con người trong việc điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ đó; về quan hệ đạo đức sinh thái thể hiện trước tiên qua quan hệ lợi ích. Hai là, hành vi đạo đức sinh thái là biểu hiện cao nhất của đạo đức sinh thái. Hành vi đạo đức được điều chỉnh bởi một hệ chuẩn (hệ thống các chuẩn mực), các giá trị đạo đức sinh thái. Hệ thống các chuẩn mực, tiêu chuẩn đạo đức sinh thái 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được hình thành trên cơ sở ý thức đạo đức sinh thái và quan hệ đạo đức sinh thái [98; tr.