Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG ASEAN 1. Các điều kiện tự nhiên, chính trị, xã hội Là một khu vực của châu Á, Đông Nam Á nằm ở phía Nam Trung Quốc, phía Đông Ấn Độ, phía Bắc của Australia, Đông Nam Á chiếm một vị trí địa lý quan trọng trong trục lộ giao thông hàng hải quốc tế, là cửa ngõ nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nối liền các quốc giá Tây Âu và Đông Á. Hiện nay, ASEAN bao gồm 10 quốc gia ở Đông Nam Á: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Brunei, Việt Nam, Lào, Myanmar, Campuchia. Các quốc gia ASEAN (ngoại trừ Thái Lan), đều trải qua giai đoạn lịch sử là thuộc địa của các quốc gia phương Tây và giành được độc lập vào các thời điểm khác nhau.
ASEAN có sự thống nhất xuất phát từ một cơ sở chung rất gần gũi nhau về điều kiện tự nhiên và con người [66, tr. Với tổng diện tích vào khoảng 4,43 triệu km2 và dân số gần 600 triệu người, tổng thu nhập quốc dân của các quốc gia ASEAN năm 2009 đạt 1.492 tỉ USD [67, tr. Sau gần 5 thập kỷ tồn tại và phát triển, ASEAN đã lớn mạnh, trở thành thực thể chính trị - kinh tế gắn kết, có vai trò quan trọng, đóng góp cho hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực. Hợp tác ASEAN ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu, bao gồm nhiều lĩnh vực từ chính trị - an ninh đến kinh tế thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường và khoa học – công nghệ … ASEAN cũng đã thiết lập được quan hệ nhiều mặt với đối tác trong và ngoài khu vực thông qua các tiến trình như: ASEAN + 1 (hợp tác ASEAN với từng đối tác); ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc); Cấp cao Đông Á; Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF).
Trên nền tảng đó, ASEAN đã nhất trí đẩy mạnh hợp tác và tăng cường liên kết nhằm hướng tới xây dựng cộng đồng ASEAN vững mạnh dựa trên ba trụ cột: Cộng đồng APSC; Cộng đồng AEC và Cộng đồng ASCC vào cuối năm 2015. Với mục tiêu là đưa ASEAN ngày càng liên kết sâu rộng và vững mạnh hơn, hướng tới phục vụ và nâng cao cuộc sống của người dân, khu vực hòa bình, ổn định và thịnh vượng, liên kết khu vực bền vững và hiệu quả nhằm góp phần thúc đẩy sức mạnh của các quốc gia Đông Nam Á. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước thời điểm ASEAN được thành lập, tại Đông Nam Á đã xuất hiện một số tổ chức quốc tế như Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) thành lập 1961 với thành viên là Thái Lan, Malaysia, Philippines và MAPHILINDO với thành viên là Malaysia, Philippines và Indonesia thành lập vào năm 1963. Vì nhiều lí do khác nhau nên những tổ chức này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
ASEAN ra đời vào ngày 08/08/1967 trên cơ sở Tuyên bố Bangkok được thông qua tại Hội nghị bộ trưởng ngoại giao 5 quốc gia là Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia và Philippines. Có thể nói, đây là sự kiện tất yếu trong bối cảnh lịch sử của khu vực lúc đó cũng như bối cảnh của từng quốc gia ASEAN 5. Nhằm trực tiếp đảm bảo an ninh và các lợi ích chính trị cho các quốc gia ASEAN khi đó, trong các yếu tố về chính trị, kinh tế, địa lý, văn hóa – xã hội tác động đến sự ra đời của ASEAN thì yếu tố cơ bản là yếu tố chính trị. Do vị trí địa – chính trị quan trọng của khu vực Đông Nam Á nên hai siêu cường Liên Xô (cũ) và Mỹ đều muốn tranh thủ các quốc gia ASEAN, khiến cho khu vực này trở nên hết sức nhạy cảm, trở thành “bàn cờ chính trị” [67, tr.10] để các quốc gia lớn thi thố quyền lực và ảnh hưởng của mình.
Do đó, hòa bình, an ninh của các quốc gia Đông Nam Á rất dễ bị tác động. Các quốc gia Đông Nam Á khi đó đã bị phân thành hai nhóm đối lập, chịu ảnh hưởng khác nhau của các cường quốc (các quốc gia Đông Dương và các quốc gia thân phương Tây). Đặc biệt, các quốc gia ASEAN 5 lo ngại về việc bị lôi kéo vào cuộc chiến tranh xâm lược mà Mỹ đang bị sa lầy tại Việt Nam. Để có thể thực thi được chính sách “cân bằng lợi ích” [67, tr.11], giảm sự chi phối của các quốc gia lớn, cách duy nhất là các quốc gia Đông Nam Á cần thiết phải liên kết với nhau và dựa vào nhau trong một tổ chức khu vực và đây cũng chính là nhân tố cơ bản quyết định tới sự hình thành xu hướng trung lập trong chính sách của ASEAN sau này.
Ngoài ra, hoạt động kém hiệu quả của các tổ chức tiền thân của ASEAN như ASA và MAPHILINDO cũng dẫn đến việc cần phải thay thế bằng hình thức hợp tác khác có hiệu quả hơn Tóm lại, dù giữa các quốc gia vẫn còn tồn tại nhiều mâu thuẫn nhưng trong bối cảnh quốc tế và ở mối quốc gia, nhất là sau khi chiến tranh ở Đông Dương đang vào giai đoạn quyết liệt thì cả năm quốc gia là thành viên sáng lập ASEAN đều 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đứng trước nhu cầu phải liên kết chặt chẽ với nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị để củng cố hòa bình và đảm bảo an toàn trong khu vực cũng như mỗi quốc gia. Bên cạnh yếu tố về chính trị là nguyên nhân có tính quyết định, các yếu tố về kinh tế, văn hóa – xã hội cũng là những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự ra đời của ASEAN, là cơ sở hình thành nên Cộng đồng ASEAN. Theo đó, về kinh tế, sự phục hồi và phát triển kinh tế sau thế chiến lần thứ 2 và sau đó là toàn cầu hóa đã dẫn đến nhiều tổ chức hợp tác kinh tế khu vực được thành lập như: thị trường chung Trung Mỹ (CACM); khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA); cộng đồng Caribe. Trào lưu khu vực hóa này đã tác động mạnh mẽ tới ý tưởng xây dựng sự hợp tác khu vực ở Đông Nam Á.
Bên cạnh đó, vai trò của các tổ chức quốc tế như: Liên Hợp Quốc và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB). LHQ thành lập Ủy ban kinh tế châu Á và Viễn Đông (Economic Commission for Asia and Far Est – ECAFE, 1947) nhằm thúc đẩy nền sản xuất ở các nước châu Á; ADB được thành lập gồm 31 quốc gia, trong đó có 19 quốc gia châu Á để cung cấp nguồn vốn cho sự phục hồi và phát triển kinh tế ở Châu Á (1966). Sau khi giành được độc lập, năm quốc gia sáng lập ASEAN đều gặp phải vấn đề khó khăn chung về kinh tế như sự lạc hậu của các cơ cấu kinh tế, tình trạng độc canh và xuất khẩu nguyên liệu thô. Vì vậy, để phát triển, các quốc gia phải hợp tác và trước hết là hợp tác trong khu vực.
Văn hóa xã hội, các quốc gia ASEAN đều có nhiều nét tương đồng về đời sống văn hóa – xã hội như tổ chức đời sống dân cư được dựa trên cộng đồng làng xã và “nền văn minh lúa nước” [67, tr13]. Trừ Thái Lan, các quốc gia ASEAN đều bị phương Tây đô hộ nên vừa có ý thức về nền độc lập dân tộc, vừa có nhu cầu về đảm bảo an ninh chung của khu vực và hợp tác để phát triển. ASEAN ra đời đánh dấu sự trưởng thành về chính trị của các quốc gia Đông Nam Á, thể hiện quyết tâm tự gánh vác trách nhiệm đối với sự phát triển của đất nước cũng như khu vực, đặc biệt trong vấn đề an ninh mà không dựa vào ngoại lực bên ngoài. Sự hình thành ASEAN đã đặt nền móng cho sự hợp tác và phát triển trong mọi lĩnh vực của các quốc gia Đông Nam Á trong hiện tại và tương lai.
Những kết quả của quá trình hợp tác ASEAN 1. Sự phát triển của ASEAN – tiền đề cần thiết của Cộng đồng ASEAN Trong Tuyên bố thành lập ASEAN được ký tại Bangkok ngày 08/8/1967 đã 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ghi nhận rằng Hiệp hội ASEAN mở rộng cho tất cả các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á tán thành tôn chỉ, nguyên tắc và mục đích nói trên tham gia [4] và tiếp tục được khẳng định lại trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á [6]. Tuy nhiên, phải đợi đến năm 1984, tức là 17 năm sau ngày thành lập, ASEAN mới bắt đầu tiếp nhận thêm Brunei, quốc gia có dân số ít nhất ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, ngay sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, cả ASEAN và Đông Dương đều nhận thấy sự cần thiết phải hợp tác với nhau trong một tổ chức chung.
Sau nhiều cân nhắc về cách thức và thời điểm mở rộng ASEAN, ngày 28/7/1995, ASEAN đã kết nạp Việt Nam, sau đó là Lào, Myanmar (1998) và Campuchia (1999). Như vậy, ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực đã hình thành. ASEAN-10 đã thật sự là một khối chính trị và kinh tế lớn trên thế giới. Vì vậy, sự phát triển của ASEAN trong hơn bốn thập kỷ qua chính là tiền đề cần thiết cho sự phát triển thành cộng đồng ASEAN.
ASEAN đã xây dựng được những nguyên tắc ứng xử giữa các nước thành viên làm cơ sở cho các hoạt động của Hiệp hội. ASEAN đã thống nhất đưa ra một số quy tắc ứng xử trong Điều 2 của Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á (TAC) và đề ra các nguyên tắc giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên theo các Điều 13, 14, 15, chương IV Hiệp ước Bali 1976. Trong đó chỉ rõ các bên tham gia sẽ thành lập một Hội đồng cấp cao bao gồm một đại diện cấp Bộ trưởng của mỗi bên tham gia hiệp ước, để ghi nhận sự tồn tại của các tranh chấp hoặc tình hình có thể phá rối hòa bình và hòa hợp trong khu vực. Trong trường hợp không đạt được các giải pháp thông qua thương lượng trực tiếp, Hội đồng cấp cao sẽ ghi nhận tranh chấp hoặc có những khuyến nghị về những giải pháp thích đáng đối với các bên tranh chấp.
Như vậy, với việc đưa ra sáu nguyên tắc ứng xử trong Hiệp ước Bali, các nhà lãnh đạo ASEAN đã bước đầu thành công trong việc đặt ra những cơ chế hợp tác khu vực để tạo cơ sở cho việc duy trì hòa bình, ổn định và loại trừ nguy cơ xung đột nội bộ giữa các nước thành viên của mình. ASEAN đã xây dựng được các cơ chế hợp tác khu vực.