phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Vật lí ở trƣờng THPT Chƣơng 2: Xây dựng chủ đề dạy học “Các định luật chất khí” – Vật lí 10 theo định hƣớng trải nghiệm sáng tạo Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 4 z CHƢƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ ỞTRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Cơ sở lí luận của tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trƣờng phổ thông 1. Các khái niệm a) Trải nghiệm Gần đây chúng ta thƣờng xuyên nhắc đến thuật ngữ trải nghiệm, chính vì mức độ phổ biến của thuật ngữ này nên cũng có nhiều quan điểm khác nhau về trải nghiệm. Theo từ điển tiếng Việt, trải có nghĩa là “đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng”, còn nghiệm có nghĩa là “kinh qua thực tế nhận thấy điều đó đúng”.
Nhƣ vậy, trải nghiệm có nghĩa là quá trình chủ thể đƣợc trực tiếp tham gia hoạt động và rút ra những kinh nghiệm cho bản thân [21]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, trải nghiệm đƣợc diễn giải theo hai nghĩa. Trải nghiệm theo nghĩa chung nhất “là bất kì một trạng thái có màu sắc xúc cảm nào đƣợc chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức,.) trong đời sống tâm linh của từng ngƣời”. Theo nghĩa hẹp, trải nghiệm “là những tín hiệu bên trong, nhờ đó các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân đƣợc ý thức chuyển thành ý kiến cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân”[20].
b) Hoạt động Trong giáo dục nói riêng và trong đời sống nói chung chúng ta nhắc nhiều đến thuật ngữ hoạt động, chính vì mức độ phổ biến của thuật ngữ này nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về hoạt động. Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “1. Làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội: hoạt động nghệ thuật hoạt động quân 5 z sự. Vận động, cử chỉ, không chịu ngồi im, yên chỗ: một con người thích hoạt động.
Vận động, vận hành để thực hiện chức năng nào hoặc gây tác động nào đó: Máy móc hoạt động bình thường theo dõi hoạt động của cơn bão”[21]. Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do nhà xuất bản từ điển bách khoa Hà Nội định nghĩa: “một phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới chung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống của mình. Trong mối quan hệ ấy, chủ thể của HĐ là con người, khách thể của HĐ là tất cả những gì mà HĐ tác động vào, qua đó tạo ra được sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể. Mục đích trên đây thể hiện trong nhiều lĩnh vực và trên nhiều dạng HĐ: kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, tư tưởng, lí luận, văn hóa, tâm lí …Nhưng hình thức cơ bản, có ý nghĩa quyết định là thực tiễn xã hội.
HĐ thường được chia thành hai loại: HĐ hướng ngoại nhằm cải tạo thiên nhiên và xã hội; HĐ hướng nội nhằm cải tạo bản thân con người. Hai loại HĐ ấy gắn liền mật thiết với nhau vì con người chỉ có thể cải tạo mình trong quá trình cải tạo thiên nhiên và xã hội. HĐ bao giờ cũng mang tính lịch sử qua các thời đại khác nhau.” [20, tr141, tập 2] Trong cuốn “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông” do tác giả Nguyễn Thị Liên chủ biên, các tác giả đƣa ra quan điểm cho rằng “Hoạt động là quá trình cá nhân thực hiện các quan hệ giữa họ với thế giới tự nhiên, xã hội, người khác và bản thân. Đó là quá trình chuyển hóa năng lực lao động (cùng với các phẩm chất tâm lý) của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể.” [12, tr 62 - 63] c) Sáng tạo Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do nhà xuất bản từ điển bách khoa Hà Nội định nghĩa: “hoạt động tạo ra cái mới.
Có thể ST trong bất kì lĩnh vực nào: khoa học (phát minh), nghệ thuật, sản xuất – kĩ thuật (sáng tác, sáng chế), kinh tế, chính trị …Thời cổ đại, con người tin rằng chỉ có Thượng đế hay Tạo hóa mới ST ra thế giới và muôn loài. Cùng với sự 6 z tiến bộ của lịch sử, nhận thức của con người dần dần thoát khỏi ý niệm duy tâm về Thượng đế, và thấy rằng chính con người là kẻ ST: tạo ra lịch sử(trong đó có bản thân con người), làm biến đổi diện mạo của thế giới, tức là tạo ra một thế giới chưa hề có, thế giới đã nhân hóa – phù hợp với ý niệm và nhu cầu của loài người” [20. 730] Trong khuôn khổ của hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trƣờng trung học phổ thông là hƣớng đến những sáng tạo mang tính cá nhân cho HS. Đó là tạo ra những cái mới đối với kinh nghiệm của các em, điều này tuy không có ý nghĩa nhiều đối với thế giới hay xã hội nhƣng lại đóng vai trò đặc biệt quan trọng với khả năng sáng tạo của HS hiện tại và trong tƣơng lai, nó sẽ là tiền đề cho những sáng tạo mang tính xã hội sau này.
d) Năng lực Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do nhà xuất bản từ điển bách khoa Hà Nội định nghĩa: “đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó. NL gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân. NL có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lí của con người, trước hết là của hệ thần kinh trung ương), song không phải là bẩm sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân). NL cao đạt được những thành tựu hoàn thiện, xuất sắc, mới mẻ, có ý nghĩa xã hội, gọi là tài năng.
Tài năng đặc biệt làm nên kì tích trong hoạt động sáng tạo, vượt lên trên mức bình thường được gọi là thiên tài. 41] Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa: “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó hoặc phẩm chất tâm sinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loạt hoạt động nào đó với chất lượng cao”.[21] Còn theo dự thảo chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2015 7 z thì Bộ giáo dục và Đào tạo đƣa ra khái niệm là “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống.”[6] e) Hoạt động trải nghiệm sáng tạo Trong kỉ yếu hội thảo về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS phổ thông của Bộ giáo dục và Đào tạo năm 2014 có nhiều quan điểm về hoạt động trải nghiệm sáng tạo do nhiều nhà giáo dục đƣa ra Trong bài “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – góc nhìn từ lý thuyết “Học từ trải nghiệm”” tác giả Đinh Thị Kim Thoa cho rằng “hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống mà nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng lực”. Theo Ngô Thị Dung thì “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động giáo dục trong nhà trường được tổ chức phù hợp với bản chất hoạt động của con người, tính từ trải nghiệm sáng tạo để nhấn mạnh bản chất hoạt động chứ không phải là một dạng hoạt động mới”.
Theo Lê Huy Hoàng, thì “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động xã hội, thực tiễn giúp HS tự chủ trải nghiệm trong tập thể, quá trình đó hình thành và thể hiện phẩm chất năng lực; nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê, bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị, nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển bản thân; bổ trợ và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục. Hoạt động này nhấn mạnh sự trải nghiệm, thúc đẩy năng lực sáng tạo của người học và được tổ chức một cách linh hoạt, sáng tạo.” Trong cuốn “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường 8 z phổ thông” do tác giả Nguyễn Thị Liên chủ biên, các tác giả đƣa ra quan điểm cho rằng “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó nội dung và cách thức tổ chức tạo điều kiện cho từng HS được tham gia trực tiếp và làm chủ thể của hoạt động, tự lên kế hoạch, chủ động xây dựng chiến lược hành động cho bản thân và cho nhóm để hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực cần có của công dân trong xã hội hiện đại, qua hoạt động HS phát huy khả năng sáng tạo để thích ứng và tạo ra cái mới, giá trị cho cá nhân và cộng đồng. 73] Còn theo dự thảo chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2015 thì Bộ giáo dục và Đào tạo đƣa ra khái niệm là “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục trong đó từng HS được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng và tích luỹ kinh nghiệm riêng của cá nhân. Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động được coi trọng trong từng môn học; đồng thời trong kế hoạch giáo dục cũng bố trí các hoạt động trải nghiệm sáng tạo riêng, mỗi hoạt động này mang tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau.
Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo a) Về nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo.