Chương 1 BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO SĨ QUAN CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI TRONG CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. CƠ SỞ THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM Chính trị, tư tưởng chính trị mà cốt lõi của nó là bản lĩnh chính trị của con người suy cho đến cùng là yếu tố thuộc lĩnh vực tinh thần và là một trong những yếu tố của hình thái ý thức xã hội. Vì vậy, muốn xem xét một cách đúng đắn, khoa học và từ đó phát huy tốt bản chất, vai trò của bản lĩnh chính trị của con người trong đời sống nói chung và trong lĩnh vực quân sự nói riêng, cần phải xuất phát từ sự xem xét mối quan hệ tác động biện chứng giữa ý thức xã hội và hoạt động tinh thần xã hội với tồn tại xã hội và hoạt động vật chất xã hội. Đó chính là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học để chúng ta có nhận thức và quan điểm đúng đắn, góp phần xây dựng và phát triển tốt các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có quân đội.
Nó giúp chúng ta tránh hai khuynh hướng, hai thái cực cực đoan; hoặc đề cao vai trò của ý thức, tư tưởng chính trị, bản lĩnh chính trị; hoặc tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố vật chất, của vũ khí trang bị kỹ thuật. Khi xem xét vai trò của ý thức chính trị, bản lĩnh chính trị trong mối tương quan giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội xuất hiện ba quan điểm sau: 1. Quan điểm đề cao vai trò của vật chất, trong quân đội là đề cao vai trò của vũ khí trang bị kỹ thuật Các quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước C.Mác khi xem xét vai trò của ý thức chính trị, bản lĩnh chính trị trong mối tương quan giữa ý thức xã 11 hội và tồn tại xã hội thường rơi vào khuynh hướng quá đề cao, thậm chí là tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố vật chất. Thời kỳ cổ đại, khi xã hội chưa phân chia thành hệ tư tưởng chính trị, tức là chưa phân chia thành ý thức xã hội và tồn tại xã hội, quan điểm của chủ nghĩa duy vật (xuất hiện ở nhiều dân tộc trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp) coi vật chất là những vật cụ thể (ví dụ như vật chất là đất, nước, lửa, không khí, nguyên tử….); vật chất có trước, ý thức có sau và vật chất quyết định ý thức.
Trong làn sóng đấu tranh phản đối sự thống trị của chủ nghĩa duy tâm trong kinh Veda và giáo lý đạo Bàlamôn, phê phán chế độ phân biệt đẳng cấp, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, cùng với đạo Phật, đạo Jaina, đó là phong trào mới tự do tư tưởng ở Đông Ấn, với những trường phái triết học duy vật nổi tiếng, hoài nghi tôn giáo và các thần linh, điển hình là trường phái duy vật Lokayata. Trong học thuyết về tồn tại, trường phái Lokayata cho rằng tất cả mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều do bốn nguyên tố: đất, nước, lửa và không khí cấu thành. Các sinh vật, kể cả con người có ý thức cũng từ bốn nguyên tố vật chất ấy mà ra. Bốn nguyên tố này có khả năng tự tồn tại, tự hoạt động trong không gian.
Tương ứng với mỗi nguyên tố đất, nước, lửa, không khí là các nguyên tử, tồn tại ngay từ đầu, không thay đổi, không bị tiêu diệt. Mọi đặc tính của các vật thể đều phụ thuộc vào chỗ chúng là sự kết hợp của những nguyên tử nào và phụ thuộc vào số lượng, tỉ lệ của sự kết hợp các nguyên tử. Ý thức hay linh hồn và các giác quan cũng chỉ xuất hiện do sự kết hợp các nguyên tử của đất, nước, lửa, không khí. Sau khi sinh vật chết đi sự kết hợp đó bị tan dã thành các nguyên tố; và các nguyên tố này lại được kết hợp với các nguyên tử của biến thể tương ứng tồn tại trong giới vô sinh.
Không có ý thức trong những yếu tố riêng rẽ. 12 Phái Lokhayata giải quyết mối quan hệ giữa ý thức và vật chất một cách duy vật mộc mạc. Họ hiểu ý thức là thuộc tính cố hữu của cơ thể. Rời khỏi nhục thể thì không thể có ý thức của người ta, không thể có cái “tôi” của người ta.
Con người chết đi, thể xác tan ra thì ý thức về “cái tôi” cũng hết. Vậy linh hồn không phải là một thực thể tồn tại độc lập và bất tử. Trong cuốn “Vedanta sutra basia” (II, 3, 53) của Sankara đã trình bày những quan điểm của phái Lokayata về mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác như sau: “Những người duy vật cho rằng hồn chỉ có thể tồn tại được trong cơ thể và không thể tách rời nó ra được, dù rằng không ai thấy ý thức trong đất hoặc trong các yếu tố khác ở bên ngoài lấy riêng ra. Tuy vậy, hồn vẫn có thể thoát ra từ những yếu tố ấy khi chúng có những hình thức là cơ thể.
Phái Lokayata xem ý thức, tư tưởng tương tự như một chất dễ say (tính chất này xuất hiện khi một số chất pha trộn với nhau theo một tỉ lệ nhất định), và người ta không phải là cái gì khác, mà chỉ là cơ thể có ý thức. Như thế đối với họ, không có linh hồn tách rời khỏi cơ thể” [7, tr. Như vậy về bản thể luận, trường phái Lokayata là một học thuyết nhất nguyên luận với quan điểm duy vật mộc mạc và chủ nghĩa vô thần triệt để. Trong đó cũng đã chứa đựng những quan niệm sơ khai về tính chất biện chứng của thế giới.
Phật giáo là một trào lưu tư tưởng lớn ở Ấn độ cổ đại, xuất hiện vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên. Xét về mặt triết học, Phật giáo được coi là sự “triết lý thâm trầm về con người”. Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi đau khổ bằng chính cuộc sống đức độ của con người. Trong tư tưởng của Phật giáo, vấn đề căn bản trong phần bản thể luận là phạm trù về “bản thể tuyệt đối” – “chân không”.
Bản thể tuyệt đối của triết học Phật giáo không phải là một khái niệm nền tảng như ở triết học phương Tây, mà 13 là một loạt những khái niệm, thuật ngữ đồng nhất với nhau. Chúng biểu hiện ở những trạng thái khác nhau như những vòng tròn đồng tâm, cùng bán kính nhưng ở vị trí khác nhau trong không gian hình cầu như khái niệm “chân không”, “vạn pháp”, “sắc, không” , “Niết bàn”, “tâm thức”, “vô ngã”. Thông qua các khái niệm trên, triết học Phật giáo đã dựng nên một vũ trụ vô tận bao gồm hàng ngàn thế giới khác nhau, luân chuyển và biến hóa cho nhau. Bản chất chân thực của thế giới này là chân không (Long Thọ bồ tát gọi là sunyata).
Vũ trụ mênh mông này là một thực thể vừa tồn tại vừa không tồn tại. Nó tồn tại bởi vì con ngươi cảm nhận được và hòa đồng vào nó. Nó không tồn tại bởi vì nó trống rỗng hoàn toàn. Ở đó không có cái gì cả ngoài sự tĩnh lặng vô biên.
Tất cả thế giới, con người đều có khởi nguồn từ sự tĩnh lặng tuyệt đối đó. Long Thọ bồ tát viết: “Chân không là một thực thể thường tịch, vô trụ và vắng lặng, nó tồn tại và cũng chẳng hư vô. Nó là một thể tích cực song không thể lý giải theo quan niệm thông thường của thế gian” [7, tr. Thực thể chân không đó bao gồm, cả vật chất, tinh thần, cả vô thức và ý thức trong trạng thái đồng nhất không phân biệt.
Vậy chân không là thực thể đầu tiên nguyên thủy với các thuộc tính: tĩnh lặng, bất động, trống rỗng và vô trụ. Chân không tĩnh lặng và trống rỗng đó bỗng nhiên xao động và nhân đôi, xuất hiện vật chất, tinh thần, ý thức, vô thức. Trong sự sai biệt đó ý thức phản tỉnh lại chính mình, nó tách ra như một thực thể độc lập, trốn khỏi cái thực thể tối hậu và đối lập với chính một nửa bản thân mình - cái vô thức và đó chính là cội nguồn của một sự đau khổ, bất hạnh của con người. Để trở về với trạng thái uyên nguyên ý thức phải trở về với thực thể chân không (đó là cảnh trí Niết Bàn).
Như vậy, với quan niệm của mình Phật giáo đã đi từ chân không (sunyata) để tới chân không, nhờ sự dẹp nắng mọi khởi thảo hiện tượng. 14 Một trong những trao lưu tư tưởng của triết học Trung Quốc cổ đại cố gắng tìm hiểu, giải thích căn nguyên và cơ cấu của vũ trụ với quan điểm duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát, lấy chính tự nhiên để giải thích các hiện tượng tự nhiên, đó học thuyết Ngũ hành và học thuyết Âm dương. “Ngũ hành” theo truyền thuyết đã có trong bản văn viết vào khoảng thế kỷ XX trước công nguyên. Ngũ hành thường được hiểu là năm yếu tố cơ bản đầu tiên hay năm thứ khí của vũ trụ, gồm: Kim (kim khí), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa (lửa), Thổ (đất) – là những yếu tố cơ bản, đầu tiên của vũ trụ, những năng tính của năm vật chất này quy định tính chất, chủng loại, nguồn gốc của vạn vật trong giới tự nhiên.
Ngũ hành không chỉ biểu hiện những hiện tượng tự nhiên mà còn biểu hiện tính chất, năng lực của con người cũng như các quan hệ xã hội và các biến cố lịch sử. Các yếu tố của ngũ hành không tồn tại tĩnh tại, bị động mà chúng là những yếu tố hoạt động, liên hệ, tương tác thâm nhập vào nhau, nên còn gọi là năm tác nhân. Sự tác động lẫn nhau của ngũ hành chi phối đời sống con người và mọi sự biến lịch sử. Cùng với học thuyết Ngũ hành, học thuyết Âm dương là quan điểm về vũ trụ quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại.
Nếu như học thuyết Ngũ hành chủ yếu giải thích cơ cấu của vũ trụ thì học thuyết Âm dương lại đi sâu lý giải nguồn gốc và sự biến đổi của vạn vật trong thế giới. Theo học thuyết Âm dương, nguyên lý tối cao và nguồn gốc biến hóa của mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ là sự liên hệ, tác động của hai thế lực “âm” và “dương” trong Thái cực; khẳng định giới tự nhiên có trước, sau đó mới có loài người; có loài người mới có sinh hoạt xã hội. Thái cực là nguyên thể đầu tiên của thế giới, tồn tại cùng khắp vũ trụ. Thái cực bao hàm trong nó hai mặt đối lập “âm” và “dương”.