phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận xây dựng xêri bản đồ điện tử về dân số thành phố Hà Nội. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Hà Nội và đặc điểm phần mềm ứng dụng. Xây dựng xêri bản đồ điện tử về dân số thành phố Hà Nội.
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG XÊRI BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ VỀ DÂN SỐ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. CƠ SỞ KHOA HỌC THÀNH LẬP XÊRI BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Bản đồ Đã có nhiều khái niệm về bản đồ với các cách diễn đạt khác nhau nhƣng nội dung tƣơng tự nhau.
- Theo Hội nghị bản đồ thế giới lần thứ 10 (Barxelona, 1995): “Bản đồ là hình ảnh của thực tế địa lý đƣợc ký hiệu hoá, phản ánh các yếu tố hoặc các đặc điểm một cách có chọn lọc, là kết quả từ sự nỗ lực sáng tạo trong lựa chọn của tác giả bản đồ, và đƣợc thiết kế để sử dụng chủ yếu liên quan đến mối quan hệ không gian”. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Salisev: “Bản đồ địa lý là sự biểu hiện bề mặt trái đất hoặc hành tinh lên mặt phẳng, đƣợc xác định về mặt toán học, có khái quát hoá, sử dụng hệ thống ký hiệu hình tƣợng, nhằm phản ánh sự phân bố, trạng thái, các mối quan hệ của các hiện tƣợng tự nhiên và xã hội khác nhau, đƣợc chọn lọc và phản ánh phù hợp với mục đích của từng bản đồ cụ thể”. Pravda: “Bản đồ là sự thể hiện bằng kí hiệu các đối tƣợng, hiện tƣợng, hoặc các đặc tính của chúng trên bề mặt trái đất, hoặc tƣơng tự nhƣ vậy trên các hành tinh khác, hoặc không gian quỹ đạo nào đó.
Sự biểu hiện này tuân theo quy tắc về thu nhỏ, tổng quát hoá, đƣợc thiết lập cho mỗi tỷ lệ, và tuân theo quy tắc của một phép chiếu phẳng bản đồ”. Dent: ”Bản đồ là sự biểu thị môi trƣờng văn hóa và tự nhiên bằng đồ họa”. - Theo Board: “Bản đồ là sự thể hiện hoặc trừu tƣợng hiện thực địa lý, công cụ để thể hiện thông tin địa lý ở dạng nhìn thấy, số, hoặc xúc giác” [8]. Từ định nghĩa trên cho thấy: - Bản đồ là mô hình về hiện thực địa lý, không gian của lãnh thổ, tích hợp các thông tin đa dạng về nội dung theo lãnh thổ.
Là mô hình thu nhỏ của thế giới thực trên cơ sở toán học nhất định, sử dụng hệ thống kí hiệu để biểu diễn nội dung một cách chọn lọc, khái quát. - Mô hình bản đồ có 4 đặc điểm quan trọng, xác định sự khác biệt giữa bản đồ với các loại mô hình khác, đó là: + Phản ánh hiện thực địa lý (các thực thể, hiện tƣợng, quá trình, tính chất, trạng thái trong mối quan hệ định vị trong không gian). + Đƣợc xác định về mặt toán học - hệ quy chiếu, tỷ lệ. + Phản ánh hiện thực địa lý có chọn lọc (tổng quát hoá), xuất phát từ một số điều kiện, trong đó quan trọng nhất là mục đích và tỷ lệ của bản đồ.
+ Phản ánh hiện thực địa lý bằng mô hình ký hiệu là chủ yếu. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chức năng của bản đồ: Bản đồ mang chức năng nhận thức và thông tin: - Chức năng nhận thức: Bản đồ là một sản phẩm khoa học, nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan (hiện thực địa lý) bằng ngôn ngữ bản đồ; Từ đó, bản đồ là mô hình, là nguồn tri thức, giúp ngƣời dùng bản đồ nhận thức thế giới khách quan thông qua mô hình. - Chức năng thông tin: Bản đồ là phƣơng tiện truyền đạt thông tin về hiện thực địa lý (mà nó phản ánh) một cách trực quan, chính xác và nhanh chóng đến ngƣời sử dụng. Bản đồ điện tử Bản đồ điện tử là một dạng của bản đồ số.Berliant: “Bản đồ điện tử là bản đồ số đƣợc hiển thị hoá (trực quan hoá) trên màn hình hay trên môi trƣờng máy tính, đƣợc làm sẵn để nhìn trực quan (đĩa quang hay thiết bị ghi nào đó) nhờ sử dụng các phƣơng tiện kỹ thuật và chƣơng trình, trong phép chiếu, hệ thống ký hiệu, có xét đến độ chính xác đã đặt ra và sự trình bày ”.
- Theo Stepanovich: “ Bản đồ điện tử là tập hợp có tổ chức các dữ liệu bản đồ trên các thiết bị có khả năng đọc bằng máy tính điện tử, và đƣợc thể hiện dƣới dạng hình ảnh bản đồ ”[8]. - Theo Ascge & Herrmann 1994, Cit Ditz 1998: “Một khi công nghệ số không chỉ đƣợc dùng để thiết kế và sản xuất bản đồ, mà còn để xuất bản và ứng dụng, thì các dữ liệu bản đồ số còn cho phép tiếp tục mở rộng thành bản đồ đa phƣơng tiện kiểu cơ sở bản đồ, gọi là bản đồ điện tử hoặc bản đồ giao diện (Electronic or interactive map)” [39]. - Dent 1985: “Để lập bản đồ, nhà bản đồ phải lựa chọn dữ liệu và diễn đạt thành thông tin”. Từ quan điểm này, bản đồ đƣợc coi là sự trừu tƣợng hoá môi trƣờng bằng bản đồ.
Quá trình trừu tƣợng hoá gồm: lựa chọn (selection), phân loại (classification), đơn giản hoá (Siplification), và ký hiệu hoá (simbolization) [8]: - Sự lựa chọn thông tin đƣợc xác định bởi mục đích của bản đồ. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Sự phân loại là gộp các đối tƣợng thành các nhóm có thuộc tính giống hoặc tƣơng tự nhau. - Đơn giản hoá là gạt đi những chi tiết không cần thiết - Kí hiệu hóa là tái tạo lại hình dạng của đối tƣợng trong thế giới thực bằng sự thể hiện bản đồ. Đây đồng thời cũng là những quy trình tổng quát hóa bản đồ.
Cromley: Bản đồ là một mô hình dữ liệu (data model) [9]. - Harvey, 1969, chức năng của một mô hình đƣợc phản ánh thông qua các phƣơng tiện khác nhau [8]: + Mô hình biểu tƣợng (Iconic model) – tái tạo thực tế chỉ thu nhỏ tỷ lệ + Mô hình tƣơng tự (Analog model) – cũng thu nhỏ tỷ lệ nhƣng thể hiện các yếu tố của thế giới thực tƣơng tự nhƣ yếu tố đó (ví dụ thể hiện cơ sở địa lý). + Mô hình kí hiệu (Simbolic model) – là sự thể hiện mang tính lý thuyết cao hơn, về thực tế bằng ngôn ngữ gần với đối tƣợng của thế giới thực. Bản đồ thực (real map) nhìn chung là sự kết hợp của 2 mô hình tƣơng tự và kí hiệu.
Ví dụ, ở bản đồ chuyên đề, cơ sở địa lý là mô hình tƣơng tự, còn lớp phủ chuyên đề là mô hình ký hiệu, về những thông tin này đƣợc thể hiện bởi một ngôn ngữ trừu tƣợng. Từ những khái niệm về bản đồ điện tử nhƣ trên, có thể thấy rằng bản đồ điện tử là thể loại bản đồ có những đặc điểm sau: - Bản đồ điện tử trƣớc hết là bản đồ, có đầy đủ các đặc điểm cơ bản của bản đồ truyền thống nhƣ: phản ánh các thông tin địa lý, tuân theo cơ sở toán học, có tổng quát hoá, sử dụng hệ thống ký hiệu, nhƣng mọi thông tin trên bản đồ đƣợc ghi ở dạng số. - Thông tin của bản đồ điện tử đƣợc cấu trúc theo kiểu raster hoặc vector, có kèm theo topology, tổ chức thành các file bản đồ riêng rẽ, hoặc liên kết thành thƣ mục trong 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các cơ sở dữ liệu bản đồ hoặc hệ thống thông tin địa lý (GIS), đƣợc lƣu trữ trong một hệ thống máy tính hoặc các thiết bị ghi thông tin có khả năng đọc bằng máy tính. - Bản đồ điện tử có thể chuyển đổi và hiện thị thành hình ảnh bản đồ dạng tƣơng đồng, trên các phƣơng tiện khác nhau nhƣ: giấy, màn hình, qua mạng,.
- Để có thể sử dụng và làm việc với bản đồ điện tử nhất thiết phải có máy tính điện tử và các thiết bị liên quan, hệ điều hành cũng nhƣ các phần mềm liên quan (phần mềm trên hệ điều hành và phần mềm chuyên dụng trong công tác thành lập bản đồ). - Ngoài các đặc điểm giống nhƣ bản đồ truyền thống thì bản đồ điện tử còn có rất nhiều các ƣu điểm hơn hẳn bản đồ truyền thống nhƣ: + Cho khả năng giao diện trực tiếp, thuận lợi và linh hoạt giữa ngƣời dùng với thông tin bản đồ. + Cho ta khả năng chứa đựng thông tin rất phong phú và chi tiết nhƣng không hề ảnh hƣởng đến sự hiển thị và các phƣơng pháp sử dụng bản đồ, do đặc điểm tổ chức các lớp thông tin, và do khả năng của các thiết bị tin học ngày càng tinh xảo. + Bản đồ điện tử có tính chuẩn hoá cao về: dữ liệu, tổ chức dữ liệu, thể hiện dữ liệu,.
+ Dễ dàng cập nhật, chỉnh sửa, hoặc có thể thay đổi về thiết kế, trình bày, ký hiệu; do đó thông tin của bản đồ luôn luôn mới, hoặc muốn theo ý ngƣời quản lý, ngƣời sử dụng, trong khi đó các thông tin cũ vẫn đƣợc bảo lƣu. + Có thể bảo mật ở các mức độ khác nhau. Xêri bản đồ Berliant A.: Bản đồ trong xêri là bản đồ nằm trong một loạt bản đồ nào đó đƣợc hợp nhất bởi sự thống nhất về tỷ lệ, lãnh thổ, ý nghĩa, hoặc một dấu hiệu (tiêu chí) nào đó. Xêri bản đồ là một tập hợp (một loạt) các bản đồ thống nhất nhau về tỷ lệ hoặc lãnh thổ, hoặc ý nghĩa, hoặc một tiêu chí nào đó.
Ở Việt Nam đã có các xêri: 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các xêri bản đồ địa hình các tỷ lệ. - Các xêri bản đồ địa chất các tỷ lệ - Xêri các bản đồ biển (hằng hải) tỷ lệ khác nhau - Các xêri bản đồ địa giới hành chính các tỉnh. - Các xêri bản đồ hành chính các cấp. - Các xêri bản đồ dự báo thời tiết.
- Xêri bản đồ giao thông…. Phân loại xêri bản đồ: Phân loại theo lãnh thổ - Toàn quốc, tỉnh, huyện, xã - Vùng, á vùng, tiểu vùng Phân loại theo tỷ lệ: Phụ thuộc vào sự phân loại của mỗi ngành. 3) Phân loại theo chuyên đề, chuyên ngành; + Tự nhiên: Địa chất, Địa mạo, … + Kinh tế + Dân cƣ + Văn hóa, + Xã hội + Bản đồ địa hình cơ bản quốc gia + Địa chính … Đặc điểm của xê ri bản đồ: - Có sự thống nhất về độ chính xác, nội dung và trình bày trong một xê ri. - Đƣợc lƣu ở dạng tờ rời, đóng quyển hoặc đóng gáy đơn giản, sổ điện tử, máy tính.