ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là quốc gia nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên đã ban tặng cho nƣớc ta nhiều loài sinh vật quý hiếm. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những nƣớc có trữ lƣợng đa dạng sinh học cao nhất thế giới với các loài động, thực vật đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, qua các thời kỳ dựng nƣớc và giữ nƣớc trong thế kỷ trƣớc, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ những năm cuối thế kỷ XX, và sự bùng nổ dân số đã làm cho giá trị đa dạng sinh học cũng nhƣ chất lƣợng môi trƣờng sống ngày càng bị suy thoái đã đặt ra cho chúng ta một thách thức vô cùng to lớn. Chính vì vậy việc khai thác hợp lý, bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng và bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng trở nên cấp thiết.
Chúng ta cần làm cho cộng đồng dân cƣ các cấp chính quyền hiểu rõ vấn đề để có những hành động, những quyết sách đúng đắn hơn trong công tác quản lý, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hệ động vật nói chung và chim nói riêng có vai trò quan trọng không chỉ đối với tự nhiên mà còn đối với cuộc sống của con ngƣời. Lớp chim chiếm một số lƣợng lớn trong giới động vật. Hiện nay trên thế giới có khoảng 10.000 loài chim, trong đó Việt Nam hiện nay đã tìm và xác định đƣợc gần 900 loài.
Các loài chim đối với xã hội loài ngƣời là một trong những nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng trong đời sống hàng ngày, ngoài ra chúng còn là loài động vật nuôi làm cảnh phổ biến tại nƣớc ta. Khu vực Trung Trƣờng Sơn gồm các khối núi trung tâm dãy Trƣờng Sơn gồm 8 tỉnh trung trung bộ: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Gia Lai, Kon Tum có tổng diện tích khoảng 6 triệu ha với trên 2,38 triệu ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm tới gần 2,2 triệu ha, còn lại là rừng trồng, độ che phủ bình quân của vùng đạt 42,75% (Bảo tồn đa dạng sinh học vùng Trung Trường Sơn, tháng 5/2005). Trong đó tại đây đã ghi nhận đƣợc hơn 3.000 loài thực vật trong đó có 46 loài đƣợc ghi trong sách đỏ, 28 loài thú đặc hữu, hơn 400 loài chim, 11 loài lƣỡng 1 cƣ bò sát. Nơi đây tập trung nhiều loài chim quý hiếm của Việt Nam cũng nhƣ khu vực Đông Nam Á.
Một số loài tiêu biểu nhƣ: Gà lôi mào trắng, Họa mi, Khƣớu bạc má, Chích chòe lửa, Gà so, Gà lôi trắng và có đến 7 loài chim trĩ khác nhau, trong đó có loài quý hiếm nhƣ Trĩ sao. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tình trạng săn bắn quá mức đã đe dọa đến sự tồn tại của nhiều loài chim quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên và đã có rất nhiều loài đang đứng trƣớc nguy cơ bị đe dọa. Trƣớc thực trạng đó, vấn đề đặt ra đối với các cơ quan chức năng là nhanh chóng đƣa ra các biện pháp nhằm quản lý tài nguyên một cách có hiệu quả. Để có các giải pháp hợp lý, thiết thực và hiệu quả nhất trƣớc hết cần phải có quá trình điều tra, nghiên cứu nắm đƣợc các đặc điểm sinh thái học của từng loài, hiện trạng cũng nhƣ các mối đe dọa đối với loài.
Trên cơ sở đó, xác định đối tƣợng ƣu tiên, lập kế hoạch bảo vệ, quản lý tài nguyên rừng và xây dựng bản đồ đa dạng sinh học. Nhằm giúp nhà quản lý và nhà bảo tồn có thêm nhiều công cụ hỗ trợ, dễ dàng tìm kiếm và thu thập thông tin về các loài đã đƣợc nghiên cứu. Nhận thấy sự cấp thiết của việc bảo tồn giá trị đa dạng sinh học của lớp Chim ở vùng Trung Trƣờng Sơn nên tôi thực hiện đề tài “Xây dựng bản đồ đa dạng sinh học lớp Chim ở vùng Trung Trƣờng Sơn”, nhằm cung cấp các thông tin về phân bố của các loài trong lớp chim thuộc khu vực Trung Trƣờng Sơn. Qua đó bổ sung thêm nguồn dữ liệu về các loài chim trong khu vực nghiên cứu.
Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp nghiên cứu, bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học của các loài chim cũng nhƣ đƣa ra các biện pháp kỹ thuật nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên đa dạng sinh học một cách có hiệu quả. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu lớp Chim khu vực Đông Dƣơng và Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu lớp Chim ở khu vực Đông Dương Đã từ lâu, Đông Dƣơng với cảnh quan thiên nhiên phong phú đã đƣợc nhiều nhà Điểu học chú ý đến.
Việc nghiên cứu các loài Động vật hoang dã đặc biệt là chim trên lãnh thổ Đông Dƣơng đã có lịch sử hơn 100 năm và có nhiều nhà sinh học nƣớc ngoài đến đây nghiên cứu. Mặc dù vậy, cho đến nay những hiểu biết về động vật Đông Dƣơng nói chung và chim nói riêng vẫn còn bị hạn chế. Tài liệu chim đầu tiên là bản mô tả các loài Gà rừng (Gallus galus) của Linne với tiêu bản bắt đƣợc ở đảo Côn Lôn (Linne, 1758). Sau đó 30 năm, năm 1788 Gomolanh mô tả loài thứ 2 bắt đƣợc ở Đông Dƣơng, đó là một loài Chim xanh nam bộ (Chloropsis cochinchinensis) (Gmelin, 1788).
Vào khoảng giữa thế kỷ thứ XIX một vài loài chim nữa ở Đông Dƣơng đƣợc mô tả thêm. Sau khi xâm chiếm ở miền Nam Đông Dƣơng ngƣời Pháp bắt đầu chú ý đến việc nghiên cứu thiên nhiên vùng này. Mặc dù vào thời gian đầu họ không tổ chức một cuộc sƣu tầm nào lớn, nhƣng đến năm 1862 đến năm 1874 nhiều đợt nghiên cứu Chim khá quy mô do nhà tự nhiên học nghiệp dƣ đã sƣu tầm một số lƣợng mẫu vật rất lớn và đƣợc chuyển về Pháp để xác định. Oustales cho xuất bản công trình “Chim Camphuchia, Lào, Nam Bộ và Bắc Bộ Việt Nam” và từ năm 1905 đến năm 1907 Uxtale và Gecmanh cho xuất bản tập: “Danh sách Chim miền Nam Việt Nam, Nam Bộ”.
Vào thời điểm đó, Miền Bắc Việt Nam có Butan tổ chức sƣu tầm Chim và kết quả đã đƣợc công bố trong tập“ Mƣời năm nghiên cứu động vật”. Ông đã ghi nhận đƣợc 90 loài và một số dữ liệu về sinh học của một số loài. Năm 1918, lần đầu tiên tổ chức cuộc thi sƣu tầm Chim dƣới sự chỉ đạo của Boden Klox, với kết quả thu đƣợc là 1525 tiêu bản. Kết quả này đƣợc 3 Robinson và Klox thông báo trong tập “Chim Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam”.
Công trình này đƣợc ghi nhận 235 loài và trong đó có 34 loài mới cho khoa học. Trong khoảng thời gian đó nhà Điểu học ngƣời Nhật Kuroda phân tích bộ sƣu tập Chim do S. Txikia đã ghi nhận đƣợc 130 loài và loài phụ. Grinuay và đồng nghiệp đã tiến hành 7 cuộc sƣu tầm lớn ở nhiều vùng khác nhau trên lãnh thổ Đông Dƣơng, với kết quả đáng ngạc nhiên 23 nghìn tiêu bản đã thu thập đƣợc để đƣa về Pháp giám định.
Các tiêu bản này sau đó đƣợc phân chia cho các Viện Bảo Tàng lớn ở Pháp, Anh, Mỹ. Năm 1940 Dolacua và Grinuay cho xuất bản danh sách Chim thu thập đƣợc trong cuộc sƣu tầm lần thứ 7 gồm 224 loài và loài phụ. Từ năm 1941 đến năm 1950, một số sƣu tập Chim lẻ tẻ thu thập ở Lào cùng một số địa phƣơng khác ở miền Bắc Việt Nam đƣợc gửi về phòng nghiên cứu động vật Trƣờng Đại học tổng hợp Đông Dƣơng giám định. Các sƣu tập này đã đƣợc Buaret phân tích và công bố, đáng chú ý có công trình nghiên cứu về Chim ở Lào của Bolio.
Ông đã thu thập đƣợc 6000 tiêu bản của 505 loài và phân loài. Trong vòng 10 năm cuối nhiều tác giả đã công bố nhiều công trình thu thập về Chim ở Đông Nam Á, trong đó có 20 dạng mới sƣu tầm đƣợc trên lãnh thổ Đông Dƣơng. Dựa vào các công trình mới này năm 1951, Dolacua lại cho bổ sung lần thứ 3 danh sách Chim Đông Dƣơng (J. Lần này tác giả mở rộng thêm danh sách đến 1085 loài và loài phụ, trong đó có 2 dạng mới.
Tình hình nghiên cứu Chim ở Việt Nam Trƣớc năm 1945, tất cả các công trình nghiên cứu về chim đều là của ngƣời nƣớc ngoài. Còn từ năm 1945 đến năm 1954, do chiến tranh nên mọi công việc nghiên cứu ở Việt Nam đều bị gián đoạn. Cho đến sau khi miền Bắc Việt Nam đƣợc giải phóng ít lâu, một số nhà khoa học Việt Nam mới bắt đầu nghiên cứu. Đáng chú ý có công trình nghiên cứu của tác giả Võ Quý, Trần Gia Huấn 1960- 1961; Võ Quý 1962- 1966; Võ Quý, Đỗ Ngọc Quang 4 1965; Võ Quý và Alogiava N.
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu Fiso và Lê Diên Dực 1966, về chim miền Bắc Việt Nam. Hầu hết các công trình này cũng chỉ mới đề cập đến khu hệ chim của một vài vùng nhỏ ở Việt Nam, các tác giả đều đi sâu nghiên cứu phát hiện loài và phân loài mà còn rất ít chú ý đến quan hệ giữa các loài và sinh cảnh. Năm 1971, Võ Quý đã tổng hợp kết quả nghiên cứu hơn bảy mƣơi năm trƣớc đó về đời sống của các loài chim phổ biến ở miền Bắc Việt Nam và cho ra công trình “Sinh học các loài chim thƣờng gặp ở Việt Nam”. Trong sách, tác giả có đầy đủ các đặc điểm về nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần hai trăm loài chim ở miền Bắc, đa số các loài này đều có ý nghĩa kinh tế.
Đây là công trình nghiên cứu về Chim đầy đủ, có hệ thống và sát với thực tế. Nhƣng do đối tƣợng nghiên cứu rộng lớn nên tác giả không thể đi sâu nghiên cứu về nơi ở của các loài chim. Đối với mỗi loài về nơi ở tác giả mới chỉ đƣa ra chúng ở sinh cảnh nào, đai độ cao nào mà chƣa chỉ ra cụ thể đặc điểm sinh cảnh sống của chim nhƣ tổ thành thực vật, vị trí tầng tán mà loài ƣa thích. Sau chiến tranh giải phóng Miền Nam thống nhất đất nƣớc, công trình “Chim Việt Nam, Hình thái phân loại (Tập I, II) của Võ Quý 1975- 1981” là công trình đầu tiên nghiên cứu Chim trên toàn lãnh thổ Việt Nam về mặt hình thái và phân loại.