Nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm: Nghiên cứu tại Đông Nam Bộ

Nghiên cứu nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Phân tích thực tiễn, góp phần phòng ngừa tội phạm.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

181
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM, DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI

2.1. Khái niệm, phân loại, đặc điểm nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người

2.2. Các yếu tố tác động đến quá trình hình thành nhân thân tiêu cực ở người phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM, DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

3.1. Khái quát tình hình tội phạm xâm phạm nhân phẩm, danh dự trên địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ

3.2. Các đặc điểm nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người trên địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ

3.3. Các yếu tố tác động đến sự hình thành các đặc điểm nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người trên địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ

4. CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM, DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ TỪ GÓC ĐỘ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI

4.1. Các biến động của các điều kiện khách quan có tác động đến sự hình thành các đặc điểm nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người trên địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ

4.2. Tăng cường phòng ngừa tình hình tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người trên địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ từ góc độ nhân thân

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Xâm Phạm Nhân Phẩm Tổng Quan Nghiên Cứu Tại Đông Nam Bộ

Con người, vốn quý của xã hội, được pháp luật bảo vệ, đặc biệt là nhân phẩm, danh dự và tự do. Ở Việt Nam, mọi chính sách hướng đến mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Hiến pháp 2013 khẳng định quyền con ngườiquyền công dân. Bộ Luật hình sự 2015 quy định về tội xâm phạm nhân phẩm. Vùng Đông Nam Bộ (ĐNB), dẫn đầu về GDP, đối mặt với thách thức trong trật tự xã hội. Tình hình tội phạm, đặc biệt xâm phạm nhân phẩm, diễn biến phức tạp. Theo thống kê, giai đoạn 2008-2017, ĐNB chiếm tỉ lệ đáng kể trong số vụ xâm phạm nhân phẩm xét xử trên cả nước. Các đối tượng phạm tội sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Để đấu tranh hiệu quả, cần nhận thức đúng đắn về nhân thân người phạm tội. Nghiên cứu nhân thân giúp định tội, định khung hình phạt chính xác, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp phòng ngừa hiệu quả. Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người từ thực tiễn các tỉnh miền Đông Nam Bộ" mang tính cấp thiết.

1.1. Tính Cấp Thiết Của Nghiên Cứu Về Xâm Phạm Nhân Phẩm

Nghiên cứu này cấp thiết vì xâm phạm nhân phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người và trật tự xã hội. Thống kê cho thấy sự gia tăng của các vụ xâm phạm nhân phẩmĐông Nam Bộ. Cần hiểu rõ nhân thân người phạm tội để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả. "Để đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm nhân phẩm, danh dự nói riêng một cách có hiệu quả, một vấn đề rất quan trọng là cần nhận thức đúng đắn về nhân thân người phạm tội, bởi nhân thân người phạm tội giữ vai trò quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội."

1.2. Mục Tiêu và Nhiệm Vụ Nghiên Cứu Về Xâm Phạm Nhân Phẩm

Mục tiêu là làm rõ đặc điểm nhân thân người phạm tội ở ĐNB, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp phòng ngừa. Nhiệm vụ bao gồm tổng quan tình hình nghiên cứu, phân tích lý luận về nhân thân, làm rõ thực tiễn nhân thân ở ĐNB giai đoạn 2008-2017, và kiến nghị các giải pháp phòng ngừa. Nghiên cứu này tập trung vào nhân thân người phạm tội và các yếu tố tác động. Phạm vi nghiên cứu là hành vi xâm phạm nhân phẩm được xét xử tại các Tòa án ở ĐNB giai đoạn 2008-2017.

II. Vấn Đề Lý Luận Nhân Thân Người Xâm Phạm Nhân Phẩm Danh Dự

Để giải quyết vấn đề xâm phạm nhân phẩm, cần làm rõ khái niệm nhân thân, con người sinh ra là một thực thể tự nhiên (cơ thể sinh học) nhưng muốn tồn tại thì con người phải tham gia vào các hoạt động để phục vụ cho cuộc sống bản thân (như ăn, uống, nghỉ ngơi. Trong bất kỳ xã hội nào, con người không thể sống riêng biệt, tách rời với xã hội mà ngược lại, luôn luôn có quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất cũng như trong các mối quan hệ rất đa dạng, phong phú (về kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật, giáo dục, văn hoá và các mối quan hệ khác). bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Nhân thân con người là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu riêng biệt của con người. Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS của họ. Khoa học LHS khai thác nhân thân người phạm tội để tìm kiếm những đặc điểm, những yếu tố có ý nghĩa có giá trị thiết thực cho việc thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta, đặc biệt là để giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS.

2.1. Khái Niệm Nhân Thân Người Xâm Phạm và Các Yếu Tố Ảnh Hưởng

Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu riêng biệt của con người, thể hiện bản chất xã hội của con người đó. Khái niệm này bao gồm các đặc điểm về sinh học, tâm lý và xã hội. Cần phải đánh giá nhân thân con người cần phải chú ý đến cả các đặc điểm về sinh học, tâm lý và xã hội.

2.2. So Sánh Góc Độ Tiếp Cận LHS và Tội Phạm Học

Khoa học LHS khai thác nhân thân người phạm tội để tìm kiếm những đặc điểm, những yếu tố có ý nghĩa có giá trị thiết thực cho việc thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta, đặc biệt là để giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS. Còn TPH cũng khai thác những đặc điểm, những yếu tố nhân thân người phạm tội nhưng để trả lời câu hỏi tại sao con người đó lại phạm tội, đặc điểm nào, yếu tố nào đã dẫn dắt đến sự phạm tội của người đó, tức là tìm nguyên nhân của tội phạm để phòng ngừa.

III. Phân Loại Đặc Điểm Nhân Thân Người Phạm Tội Xâm Phạm

Phân loại nhân thân người phạm tội dựa vào mức độ sai phạm của ý thức cá nhân và khuynh hướng giá trị cá nhân. Theo căn cứ này, nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm có thể chia thành những người phạm tội XPNPDD mang tính ngẫu nhiên, những người phạm tội tình thế, những người phạm tội từ xu hướng vi phạm pháp luật, nhân thân người phạm tội liên tục, tái phạm, tái phạm nguy hiểm: Là nhân thân người phạm tội XPNPDD của con người mà người đó thực hiện các tội phạm đó có tính liên tục, nhiều lần hoặc tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Việc phân chia các nhóm theo ý thức cá nhân và khuynh hướng giá trị cá nhân giúp cho người nghiên cứu xác định nhóm tội phạm nào xảy ra nhiều nhất, có khả năng nhất trong việc che giấu hành vi phạm tội của mình. Thứ hai, căn cứ vào nhóm các hành vi phạm tội.

3.1. Phân Loại Nhân Thân Dựa Theo Mức Độ Vi Phạm Ý Thức

Có thể phân loại thành các nhóm như phạm tội ngẫu nhiên, phạm tội tình thế, phạm tội do xu hướng vi phạm, và tái phạm. Cách phân loại này giúp xác định nhóm tội phạm nào có khả năng che giấu hành vi tốt nhất.

3.2. Phân Loại Nhân Thân Dựa Theo Nhóm Hành Vi Phạm Tội

Phân loại theo nhóm hành vi giúp thấy rõ đặc trưng nhân thân của người thực hiện mỗi nhóm hành vi cụ thể, đồng thời thấy được những điểm khác nhau trong đặc điểm nhân thân của người phạm tội đối với mỗi hành vi cụ thể, từ đó có các giải pháp phòng ngừa tội phạm từ góc độ nhân thân một cách phù hợp.

IV. Thực Trạng Nhân Thân Người Phạm Tội Xâm Phạm ở Đông Nam Bộ

Nghiên cứu nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩmĐông Nam Bộ giúp hiểu rõ các yếu tố tác động đến hành vi phạm tội. Việc nghiên cứu là để làm rõ các đặc điểm nhân thân người phạm tội XPNPDD của con người, từ đó kiến nghị các biện pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội XPNPDD của con người xét về khía cạnh nhân thân người phạm tội. Nhóm đặc điểm nhân chủng học xã hội của nhân thân người phạm tội XPNPDD của con người bao gồm giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình. Dựa vào đặc điểm nghề nghiệp, người phạm tội XPTD được chia thành: Người không có nghề nghiệp, người có nghề nghiệp không ổn định, người có nghề nghiệp ổn định.

4.1. Giới Tính và Xu Hướng Xâm Phạm Nhân Phẩm Ở Nam và Nữ

Đặc điểm giới tính của người phạm tội nói chung và phạm tội XPNPDD của con người nói riêng giúp chúng ta làm rõ ảnh hưởng của đặc điểm giới tính đến cơ chế hành vi phạm tội, là cơ sở để có biện pháp PNTP theo giới tính một cách phù hợp.

4.2. Ảnh Hưởng của Tuổi Tác Đến Hành Vi Xâm Phạm Nhân Phẩm

Nghiên cứu đặc điểm về lứa tuổi của người phạm tội nói chung và người phạm tội XPNPDD của con người nói riêng có ý nghĩa trong việc xác định biện pháp phòng ngừa loại tội phạm này, bởi vì mỗi lứa tuổi sẽ có các đặc điểm riêng biệt về sự phát triển thể chất, tâm lý, sinh lý, hiểu biết… Do đó, mỗi lứa tuổi sẽ có đặc trưng phạm tội riêng biệt. Quan điểm của các nhà TPH hiện nay đa số chia người phạm tội thành 04 nhóm: nhóm người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi; nhóm người từ 18 đến 30 tuổi; nhóm người từ 30 đến 45 tuổi; nhóm người trên 45 tuổi.

4.3. Vai Trò Của Nghề Nghiệp và Trình Độ Học Vấn

Nghiên cứu về nghề nghiệp của người phạm tội xâm phạm nhân phẩm cho biết nhóm người phạm tội thường làm việc ở những nghề nghiệp nào, thất nghiệp hay không, có địa vị cao hay thấp… từ đó xác định đặc điểm nghề nghiệp có ảnh hưởng như thế nào đến việc thực hiện tội phạm. Trình độ học vấn cũng phản ánh sự phát triển lý trí, phản ánh trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật và hình thành nhân cách, tạo cho con người còn có thể lựa chọn được cách ứng xử đúng với các chuẩn mực xã hội. Vì vậy, trình độ học vấn của con người có ảnh hưởng đến hành vi phạm tội.

V. Đặc Điểm Về Tâm Lý Xã Hội Của Người Xâm Phạm Nhân Phẩm

Đặc điểm về tâm lý xã hội là các đặc điểm tiêu cực bên trong con người, đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành động cơ, thực hiện hành vi phạm tội. Dưới góc độ tâm lý học, khi nghiên cứu về đặc điểm tâm lý tội phạm chính là nghiên cứu về nhân cách của họ, dưới góc độ là một cấu tạo tâm lý. Quan điểm, thái độ, nhận thức đối với các giá trị đạo đức (thế giới quan); nhu cầu, lợi ích; quan điểm, thái độ đối với cộng đồng xã hội, với các loại hoạt động xã hội cơ bản, với tổ quốc, đối với nghĩa vụ của công dân, với lao động. Người phạm tội XPNPDD của con người thường mang những đặc điểm tâm lý sau: Thứ nhất, về quan điểm, thái độ, nhận thức đối với các giá trị đạo đức

5.1. Thế Giới Quan và Mối Liên Hệ Tới Hành Vi Xâm Phạm

Quan điểm, thái độ, nhận thức đối với các giá trị đạo đức, xem xét, đánh giá người phạm tội nói chung và XPNPDD của con người nói riêng thông qua các đặc điểm về quan điểm, thái độ, nhận thức với các giá trị đạo đức tức là xem xét quan điểm, thái độ đối với các giá trị xã hội, con người, quyền được bảo vệ về thân thể, danh dự, nhân phẩm, giá trị về lao động… Với quan điểm này, người phạm tội XPNPDD của con người có nhận thức lệch lạc, người phạm tội thường kém hiểu biết về xã hội; thiếu hiểu biết, xem thường pháp luật và lệch lạc chuẩn mực đạo đức lối sống

5.2. Nhu Cầu và Lợi Ích Cá Nhân Động Cơ Của Hành Vi Xâm Phạm

Những đặc điểm nhu cầu, lợi ích là đặc điểm đặc trưng đối với nhân thân người phạm tội XPNPDD của con người, người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội để thỏa mãn nhu cầu sinh lý, lợi ích vật chất, vụ lợi. cần phải đáp ứng nhu cầu. Hơn hết, họ là người có những lệch lạc trong sở thích, thói quen, nhu cầu và cách thức thỏa mãn nhu cầu.

VI. Giải Pháp Phòng Ngừa Xâm Phạm Nhân Phẩm Từ Góc Độ Nhân Thân

Phòng ngừa THTP XPNPDD cần phải được thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, trong đó biện pháp tác động ảnh hưởng trực tiếp tới nhân thân người phạm tội là rất quan trọng để chuyển biến những nhân thân tiêu cực trở nên tích cực hơn, có trách nhiệm với xã hội. Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội còn cho phép xác định được những hiện tượng xã hội tiêu cực tác động đến việc hình thành đặc điểm tiêu cực ở con người dẫn đến hành vi phạm tội, từ đó là cơ sở để NCS có thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả từ góc độ nhân thân người phạm tội.

6.1. Tác Động Nhân Thân Tiêu Cực và Phương Pháp Chuyển Biến

Phòng ngừa cần tập trung vào chuyển biến nhân thân người phạm tội từ tiêu cực sang tích cực, thông qua các biện pháp giáo dục, tư vấn tâm lý, tạo cơ hội việc làm, và nâng cao nhận thức pháp luật. Việc tác động trực tiếp tới nhân thân người phạm tội là rất quan trọng để chuyển biến những nhân thân tiêu cực trở nên tích cực hơn, có trách nhiệm với xã hội.

6.2. Xác Định Các Yếu Tố Xã Hội Tiêu Cực Gây Ra Xâm Phạm

Cần xác định các yếu tố xã hội tiêu cực như nghèo đói, bất bình đẳng, thiếu giáo dục, và môi trường sống không lành mạnh, để có các biện pháp can thiệp và phòng ngừa hiệu quả hơn. Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội còn cho phép xác định được những hiện tượng xã hội tiêu cực tác động đến việc hình thành đặc điểm tiêu cực ở con người dẫn đến hành vi phạm tội, từ đó là cơ sở để NCS có thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả từ góc độ nhân thân người phạm tội.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nước ngoài nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài. Có thể chia các công trình đó thành các nhóm sau đây: 1. Nhóm công trình nghiên cứu các vấn đề cơ bản của Tội phạm học * “An introduction to Crime and Criminology” (tạm dịch: Giới thiệu về tội phạm và tội phạm học) của Hennessy Hayes và Tim Prenzler [139]: Đây là công trình chuyên khảo nghiên cứu về tình hình tội phạm (THTP) và nhân thân người phạm tội, trong đó các tác giả đã chỉ ra nguyên nhân và điều kiện của tội phạm chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố tiêu cực (từ phía người bị hại, môi trường xã hội, chính sách pháp luật, môi trường giáo dục.) đồng thời đưa ra chiến lược và các phương pháp đấu tranh phòng, chống một số loại tội phạm cụ thể.

Nghiên cứu tài liệu này giúp Nghiên cứu sinh (NCS) có những nhận thức đầy đủ hơn về lý luận phòng ngừa tội phạm (PNTP), các yếu tố tác động đến quá trình hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực ở người phạm tội. * “Crime prevention - Theory and Practice” (tạm dịch: Phòng ngừa tội phạm - Lý luận và thực tiễn) của Stephen R. Schneider [153]: Trong tác phẩm tác giả nhấn mạnh các vấn đề lý luận về PNTP, các tình huống phòng, chống tội phạm (PCTP) thông qua thiết kế môi trường. dựa trên nguyên tắc loại trừ các yếu tố tiêu cực từ môi trường là nguyên nhân tác động hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực ở người phạm tội.

Nghiên cứu tài liệu này giúp NCS có những nhận thức đầy đủ hơn về lý luận PNTP, vai trò của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội trong quá trình PNTP. Đặc biệt là đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế các tác động của các yếu tố tiêu cực đến quá trình hình thành nhân thân xấu ở người phạm tội. * Sách “Cơ sở lý luận của việc phòng ngừa tội phạm” của G. Mikovskij (bản dịch của Viện thông tin Khoa học xã hội - 1982) [138] là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về lý luận PNTP, trong đó tác giả đưa ra hệ thống các biện pháp phòng ngừa chung và riêng 8 áp dụng đối với các đối tượng phạm tội cụ thể.

Các giải pháp được xây dựng trên nguyên tắc loại trừ các yếu tố tiêu cực tác động đến sự hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực cũng như động cơ, mục đích của người phạm tội. * “Crime and criminology in Japan” (tạm dịch: Tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản) của Can Ueda [133]: Trong tác phẩm này Giáo sư, Tiến sĩ luật học Nhật Bản Can Ueda đưa ra quan điểm cho rằng tội phạm học (TPH) là khoa học nghiên cứu tội phạm và đề ra các biện pháp đấu tranh, phòng chống. Đồng thời, tác giả đã chỉ ra các nguyên nhân, điều kiện của THTP, các điều kiện cá nhân, xã hội của tội phạm (trong đó nhấn mạnh những đặc điểm nhân thân người phạm tội, như giới tính, lứa tuổi,.) và cả những hạn chế của quá trình đô thị hóa, sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội cùng những xáo trộn trong xã hội do sự tập trung dân cư, đô thị hóa. Tuy không nghiên cứu chuyên sâu về nhân thân người phạm tội, nhưng công trình này đã đề cập đến những đặc điểm nhân thân tiêu biểu của người phạm tội và tác động của những điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội đến sự hình thành các đặc điểm nhân thân người phạm tội cũng như ảnh hưởng của chúng đến sự phát sinh hành vi phạm tội.

* “The Liverpool underworld: crime in the city, 1750 - 1900” (tạm dịch: Thế giới ngầm ở Liverpool: Tội phạm trong thành phố giai đoạn 1750 - 1900) của Macilwee [146]: Trong công trình nghiên cứu này tác giả đề cập về thực trạng THTP ở Liverpool trong Thế kỷ 19 và phân tích những nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh và các sự kiện tác động đến từng cá nhân để hình thành các đặc điểm, thói quen, sở thích tiêu cực dễ dẫn đến phát sinh tội phạm ở thành phố này, đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm loại trừ các nguyên nhân và điều kiện dẫn đến tội phạm. Nghiên cứu tài liệu giúp NCS hiểu rõ hơn về các đặc điểm về tâm lý trong nhân thân người phạm tội cũng như một số yếu tố tác động đến quá trình hình thành nhân thân tiêu cực ở người phạm tội. Nhóm công trình nghiên cứu các vấn đề chuyên sâu của Tội phạm học * “Youth crime and youth culture in the inner city” (tạm dịch: Tội phạm thanh, thiếu niên và văn hóa giới trẻ trong khu vực nội thành) của Sanders, Bill [151]: Trong công trình này tác giả đã phân tích bức tranh toàn cảnh về xu hướng gia tăng THTP do thanh, thiếu niên thực hiện ở thành phố của xã hội hiện đại, làm rõ một số đặc điểm nhân thân người phạm tội, như động cơ, thái độ của người phạm tội và tác động của môi trường kinh tế - xã hội đối với 9 sự hình thành các đặc điểm về nhân thân người phạm tội. Qua nghiên cứu tài liệu, NCS có những nhận thức về đặc điểm nhân thân người phạm tội như: độ tuổi, địa bàn cư trú, hoàn cảnh gia đình ở một số loại tội phạm cụ thể.

* “Vì sao họ phạm tội? Tình trạng thanh, thiếu niên phạm tội ở các nước tư bản chủ nghĩa” của Melinikova E.B [135]: Trong tác phẩm này nhà TPH người Nga đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của THTP trong xã hội tư bản chủ nghĩa và cho rằng hoàn cảnh vật chất và sự chênh lệch lớn giữa giàu và nghèo là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành những đặc điểm nhân thân người phạm tội, như cách xử sự, lối sống của người phạm tội, đặc biệt là đối với người chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ phân tích về nguyên nhân phạm tội cũng như nguyên nhân hình thành một số đặc điểm nhân thân của một nhóm người trong xã hội là người chưa thành niên. Mặt khác, kết quả nghiên cứu này được rút ra từ thập niên 70 của Thế kỷ trước nên những kết quả nghiên cứu đã không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ hiện nay. Mặc dù vậy, công trình cũng phần nào nói lên tác động của điều kiện sống đến sự hình thành các đặc điểm nhân thân như động cơ, mục đích phạm tội của nhóm người chưa thành niên phạm tội.

Nghiên cứu tài liệu này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc kế thừa các kiến thức lý luận về nhân thân người phạm tội cũng như phương pháp nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự hình thành các đặc điểm nhân thân người phạm tội nói chung, nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự (XPNPDD) của con người nói riêng. * “Predators: Pedophiles, Rapists, And Other Sex Offenders” (tạm dịch: Tội phạm tình dục: Ấu dâm, hiếp dâm và những người phạm tội tình dục khác - 2004) của Anna Salter [128]: Trong cuốn sách này tác giả phân tích làm sáng tỏ một số đặc điểm nhân thân người phạm tội, như động cơ, mục đích và một số đặc điểm tâm sinh lý đã thúc đẩy một số người phạm tội tình dục và những thủ đoạn, kỹ thuật lừa đảo tinh vi mà họ sử dụng để tránh bị phát hiện. đồng thời đề xuất những biện pháp cần thiết giúp chúng ta để bảo vệ gia đình và bản thân. Thông qua việc nghiên cứu tài liệu, NCS có nhận thức về cơ chế tâm lý của người phạm tội nói chung và người phạm tội xâm phạm tình dục (XPTD), đồng thời giúp NCS phân biệt được những điểm khác biệt khi nghiên cứu về nhân thân người phạm tội dưới góc 10 độ điều tra hình sự và TPH, đây là một trong những cơ sở để NCS hoàn thiện nội dung lý luận ở Chương 2 của luận án.

* Đánh giá chung: Qua nghiên cứu các công trình ở ngoài nước nêu trên, thấy rằng các công trình này (ở mức độ khác nhau) đều đề cập đến vấn đề TPH và PNTP, đây là những lý luận nền tảng giúp NCS có những hiểu biết khái quát nhất về vấn đề TPH, THTP cũng như các vấn đề có liên quan đến nội dung luận án. Đặc biệt, một số tài liệu chuyên sâu nghiên cứu về một số tội phạm cụ thể trên một địa bàn cụ thể đã có những nghiên cứu sâu về nhân thân người phạm tội, coi đó như một yếu tố đóng vai trò là nguyên nhân làm phát sinh hành vi phạm tội, làm sáng tỏ cơ chế của hành vi phạm tội, nghiên cứu một số yếu tố có tác động đến sự hình thành các đặc điểm nhân thân người phạm tội. Trên cơ sở đó các tác giả đề xuất các giải pháp khác nhau nhằm phòng, chống có hiệu quả đối với THTP nói chung và các nhóm tội phạm cụ thể nói riêng. NCS sẽ kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình này trong việc xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp luận làm nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài luận án của mình.

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của các công trình này cũng còn bỏ ngỏ nhiều vấn đề như: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu về nhân thân người phạm tội XPNPDD của con người, phòng ngừa tội XPNPDD của con người từ góc độ nhân thân người phạm tội. Đây là những vấn đề mà luận án sẽ đi sâu nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Nhóm công trình nghiên cứu các vấn đề cơ bản của Tội phạm học * Giáo trình TPH: Giáo trình TPH của các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam (như Đại học Luật Hà Nội; Đại học Luật TP.

Hồ Chí Minh; Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Học viện Cảnh sát, Học viện An ninh nhân dân, Đại học Huế.) là các công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và bao quát nhất các vấn đề lý luận về THTP, nguyên nhân và điều kiện của THTP, nhân thân người phạm tội và các biện pháp PCTP. Tất cả các giáo trình đều đề cập đến nhân thân người phạm tội vì nhân thân người phạm tội là một nội dung quan trọng trong TPH. Ví dụ: Trong“Giáo trình tội phạm học” của Đại học Huế, GS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ