Nghiên cứu xác định Salbutamol, Clenbuterol và Ractopamine trong thức ăn chăn nuôi và sản phẩm thịt

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xác định salbutamol, clenbuterol và ractopamine trong thức ăn chăn nuôi, nước tiểu lợn và sản phẩm thịt.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hóa phân tích

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2017

95
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: Giới thiệu về hoocmon tăng trưởng β2-agonist

1.1. β2-agonist là gì?

1.2. Tác dụng của β2-agonist

1.3. Phân loại β2-agonist

1.4. Giới thiệu về Salbutamol, Clenbuterol và Ractopamine

1.4.1. Thông tin chung

1.4.2. Tính chất và tác dụng của Salbutamol, Clenbuterol và Ractopamine

Tóm tắt

I. Tổng quan về việc xác định Salbutamol Clenbuterol và Ractopamine

Việc xác định các chất cấm như Salbutamol, ClenbuterolRactopamine trong thực phẩm và nước tiểu là rất quan trọng để đảm bảo an toàn thực phẩm. Những chất này thuộc nhóm β2-agonist, có tác dụng kích thích tăng trưởng ở động vật nhưng lại gây hại cho sức khỏe con người. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các phương pháp xác định và tầm quan trọng của việc kiểm soát các chất này trong ngành chăn nuôi.

1.1. Tại sao cần xác định Salbutamol Clenbuterol và Ractopamine

Việc xác định các chất này là cần thiết để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Các chất cấm này có thể gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm rối loạn tim mạch và các vấn đề về hô hấp. Hơn nữa, việc phát hiện sớm giúp ngăn chặn việc sử dụng trái phép trong chăn nuôi.

1.2. Tình hình hiện tại về việc sử dụng các chất cấm trong chăn nuôi

Thực trạng cho thấy việc sử dụng Salbutamol, ClenbuterolRactopamine trong chăn nuôi vẫn diễn ra phổ biến. Nhiều cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi vẫn sử dụng các chất này để tăng trọng lượng và tỷ lệ thịt nạc, mặc dù đã có quy định cấm.

II. Vấn đề và thách thức trong việc xác định Salbutamol Clenbuterol và Ractopamine

Mặc dù có nhiều phương pháp xác định, nhưng việc phát hiện Salbutamol, ClenbuterolRactopamine vẫn gặp nhiều thách thức. Các chất này thường tồn tại ở nồng độ thấp trong mẫu thực phẩm và nước tiểu, đòi hỏi các phương pháp phân tích nhạy và chính xác.

2.1. Những khó khăn trong việc phát hiện các chất cấm

Một trong những khó khăn lớn nhất là nồng độ của các chất này trong mẫu thường rất thấp, điều này yêu cầu các phương pháp phân tích phải có độ nhạy cao. Ngoài ra, sự hiện diện của các chất khác trong mẫu cũng có thể gây nhiễu và ảnh hưởng đến kết quả phân tích.

2.2. Tác động của việc không phát hiện kịp thời

Nếu không phát hiện kịp thời, các chất cấm này có thể xâm nhập vào chuỗi thực phẩm, gây ra nguy cơ cho sức khỏe cộng đồng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng mà còn làm giảm uy tín của ngành chăn nuôi.

III. Phương pháp xác định Salbutamol Clenbuterol và Ractopamine hiệu quả

Có nhiều phương pháp được sử dụng để xác định Salbutamol, ClenbuterolRactopamine, trong đó sắc ký lỏng ghép khối phổ (LC-MS/MS) là phương pháp phổ biến nhất. Phương pháp này cho phép phát hiện các chất cấm với độ nhạy và độ chính xác cao.

3.1. Giới thiệu về phương pháp LC MS MS

Phương pháp LC-MS/MS kết hợp giữa sắc ký lỏng và khối phổ, cho phép tách biệt và xác định các hợp chất trong mẫu một cách hiệu quả. Phương pháp này có thể phát hiện các chất ở nồng độ rất thấp, giúp đảm bảo an toàn thực phẩm.

3.2. Quy trình thực hiện phương pháp LC MS MS

Quy trình thực hiện bao gồm các bước chiết xuất, làm sạch mẫu và phân tích bằng LC-MS/MS. Mỗi bước đều cần được tối ưu hóa để đạt được kết quả chính xác nhất.

IV. Ứng dụng thực tiễn của việc xác định Salbutamol Clenbuterol và Ractopamine

Việc xác định các chất cấm không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng mà còn giúp các cơ quan chức năng kiểm soát chất lượng thực phẩm. Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc xây dựng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.

4.1. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng phương pháp LC-MS/MS giúp phát hiện nhanh chóng và chính xác các chất cấm trong mẫu thực phẩm và nước tiểu. Điều này giúp các cơ quan chức năng có thể thực hiện các biện pháp kiểm soát hiệu quả hơn.

4.2. Tác động đến chính sách an toàn thực phẩm

Kết quả từ các nghiên cứu này có thể được sử dụng để điều chỉnh các chính sách liên quan đến an toàn thực phẩm, từ đó nâng cao chất lượng thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

V. Kết luận và tương lai của việc xác định Salbutamol Clenbuterol và Ractopamine

Việc xác định Salbutamol, ClenbuterolRactopamine là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Các phương pháp hiện có cần được cải tiến và phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm.

5.1. Tương lai của các phương pháp xác định

Trong tương lai, các công nghệ mới có thể được phát triển để nâng cao độ nhạy và độ chính xác của các phương pháp xác định. Điều này sẽ giúp cải thiện khả năng phát hiện các chất cấm trong thực phẩm.

5.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức

Nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và các nhà sản xuất về tác hại của các chất cấm là rất quan trọng. Điều này sẽ góp phần giảm thiểu việc sử dụng các chất này trong chăn nuôi và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ xác định salbutamol clenbuterol và ractopamine trong thức ăn chăn nuôi nước tiểu lợn và sản phẩm từ thịt

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Xã hội ngày càng phát triển, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm càng ngày càng đƣợc chú trọng nhiều hơn so với trƣớc kia. An toàn thực phẩm ngày nay không chỉ đơn thuần là các vấn đề về thực phẩm nhiễm bẩn, ôi thiu, thiếu vệ sinh mà còn ở chỗ thực phẩm có chứa những độc chất gây hại cho con ngƣời. Chất cấm trong chăn nuôi không phải là vấn đề mới, từ năm 2006, cơ quan chức năng đã phát hiện tồn dƣ chất cấm trong thịt gia súc, gia cầm và trong chăn nuôi, nhất là trong thịt lợn. Tuy nhiên, việc sử dụng chất cấm trong sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi và chăn nuôi thời gian qua có diễn biến phức tạp cả về tính chất, mức độ và trên quy mô diện rộng.

Các loại chất cấm thƣờng đƣợc sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi, trong chăn nuôi chủ yếu là các chất thuộc nhóm beta – agonist (Salbutamol, Clenbuterol, Ractopamin). Các chất này khi cho ăn sẽ làm cho lợn tăng trọng nhanh, nở mông, nở đùi, tăng tỉ lệ thịt nạc, tăng lợi nhuận cho ngƣời chăn nuôi và chất tạo màu (VAT Yellow), tạo màu sắc đẹp cho thực phẩm nên đƣợc các đối tƣợng thƣờng xuyên sử dụng. Thực trạng sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi cũng đang là vấn đề đƣợc ngƣời tiêu dùng quan tâm bởi qua điều tra, khảo sát của các cơ quan chức năng, hầu hết các trại nuôi gà có sử dụng kháng sinh đều cao hơn quy chuẩn; ngoài ra, một số loại kháng sinh ngoài quy chuẩn cũng đƣợc sử dụng và có hàm lƣợng cao hơn quy định. Riêng trong 10 tháng đầu năm 2015, tại các khu vực tỉnh, thành phố phía Nam, cơ quan chức năng đã lấy mẫu kiểm tra và phát hiện nhiều mẫu nƣớc tiểu lợn dƣơng tính với Salbutamol, tập trung ở các tỉnh, thành phố nhƣ: Đồng Nai phát hiện 109/654 mẫu (chiếm 16,7%); TP.

Hồ Chí Minh phát hiện 95/516 mẫu (chiếm 18,4%); Tiền Giang phát hiện 35/525 mẫu (chiếm 6,7%)… Nồng độ chất Salbutamol trong các mẫu nƣớc tiểu vật nuôi rất cao, đa số trên 200ppb, có mẫu lên tới 665ppb. Trƣớc tình hình trên, với vai trò nòng cốt của ngành Công an trong phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trƣờng, lực lƣợng Cảnh sát PCTP vể môi trƣờng đã tập trung tham mƣu chỉ đạo và triển khai đồng bộ các biện pháp công tác phòng chống; trong đó đã tích cực phối hợp với các ban, ngành của Bộ Nông nghiệp 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và Phát triển nông thôn để thanh, kiểm tra nhằm phát hiện các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi, các cơ sở chăn nuôi sử dụng chất cấm; phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Tổng cục hải quan đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát các hóa chất nhập khẩu đƣợc sử dụng trong ngành y tế nhƣng là chất cấm trong chăn nuôi. Trong tháng 11/2015, lực lƣợng Cảnh sát PCTP về môi trƣờng Công an các đơn vị, địa phƣơng đã tiến hành kiểm tra 40 cơ sở chăn nuôi; 14 cơ sở thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y; 06 cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi; 04 cửa hàng thịt; 03 cơ sở giết mổ. Qua kiểm tra, phát hiện 04 cơ sở chăn nuối có hành vi sử dụng chất cấm trong chăn nuôi (Salbutamol); 01 cửa hàng thuốc thú y có dấu hiệu buôn bán chất cấm trong chăn nuôi.

Phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành xử phạt 40 triệu đồng với 03 cơ sở sản xuất thức ăn chăn có hành vi sử dụng chất cấm trong chăn nuôi. Riêng Cục Cảnh sát PCTP về môi trƣờng đã phối hợp với các ngành chức năng (Thanh tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cục quản lý dƣợc – Bộ y tế) kiểm tra 15 công ty, cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi; làm việc với 10 doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất y tế có vi phạm bán hóa chất (Salbutamol) không đúng đối tƣợng. Quá trình thanh tra, kiểm tra, ngoài việc phát hiện sai phạm của các cchemơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi, cơ sở chăn nuôi trong việc sử dụng chất cấm, các sai phạm của các công ty nhập khẩu, kinh doanh hóa chất y tế lén lút bán chất tạo nạc cho các đối tƣợng sử dụng trong chăn nuôi, còn phát hiện đƣợc nhiều phƣơng thức, thủ đoạn đối phó rất tinh vi, xảo quyệt nhằm trốn tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng nhƣ để riêng chất cấm với thức ăn không phối trộn tại xƣởng mà sử dụng trực tiếp tại cơ sở chăn nuôi… Từ tình hình thực tế trên, Cục Cảnh sát PCTP về môi trƣờng đã tham mƣu, kiến nghị với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bổ sung 05 loại chất Vàng Ô vào danh mục cấm nhập khẩu, kinh doanh và sử dụng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm tại Việt Nam. Với mức độ gây hại nhƣ vậy, việc xác định dƣ lƣợng Salbutamol, Clenbuterol, Ractopamine trong thức ăn chăn nuôi và trong thịt, nƣớc tiểu của gia súc, gia cầm là rất cần thiết.

Trong bản luận văn này, chúng tôi đã triển khai nghiên cứu phƣơng pháp xác định dƣ lƣợng Salbutamol, Clenbuterol, Ractopamine trong 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mẫu thức ăn chăn nuôi và trong mẫu nƣớc tiểu, mẫu thịt của lợn bằng phƣơng pháp sắc ký lỏng khối phổ hai lần (LC-MS/MS). Phƣơng pháp này có độ nhạy và độ chính xác cao, dễ áp dụng và có thể trở thành công cụ rất tốt phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. Giới thiệu về hoocmon tăng trƣởng β2-agonist 1.

β2-agonist là gì? Các hợp chất β2-agonist là các dẫn xuất tổng hợp của phenethanolamin. Trong dƣợc lý, b2-agonist là hợp chất liên kết với một protein đặc biệt trên màng tế bào (Receptor) và nó gây ra sự kích thích trong tế bào. Nó giống hệt tác dụng của các chất nội sinh (ligand) gắn cùng với một loại protêin. Các chất này có khả năng liên kết tạo phức với một phân tử sinh học (protêin) để đáp ứng mục đích sinh học.

Tác dụng của β2-agonist Beta-agonist đƣợc phân làm hai nhóm theo đặc tính chữa bệnh nhƣ sau: Nhóm β1-agonist: gồm các chất nhƣ dobutamine, isoproterenol, samoterol và epinephrine có tác dụng kích thích tim, đƣợc dùng để điều trị sốc tim, suy tim cấp tính. Nhóm β2-agonist: gồm các chất nhƣ salbutanol, clenbuterol, cinaterol, fenoterol, formoterol, terbutaline, denopamine, isoxsuprine, ractopamine,… có tác dụng làm giãn cơ, đƣợc dùng để điều trị hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Phân loại β2-agonist Đối với động vật khi sử dụng β2-agonist dẫn tới sự chuyển hƣớng số lƣợng lớn các chất dinh dƣỡng từ mô mỡ về cơ, làm tăng sự tổng hợp protein thay vì mỡ, do để nó có tác dụng làm tăng lƣợng thịt nạc và làm giảm lƣợng mỡ của cơ thể động vật. Tác dụng phụ khi sử dụng β2-agonist: gây cảm giác lo lắng, hồi hộp, tim đập nhanh, giảm hàm lƣợng kali trong máu, tăng huyết áp, run cơ, đau đầu, buồn nôn.

Các β2-agonist chia làm 2 loại: - Các β2-agonist tác dụng ngắn: Salbutamol, Terbutalin, Fenoterol. - Các β2-agonist tác dụng dài: Clenbuterol, Formoterol, Salmeterol. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự phân chia này dựa trên thời gian tác dụng của mỗi loại. Đối với Salbutamol, Terbutaline và Fenoterosau khi đƣa vào cơ thể tác dụng rất nhanh, chỉ trong vài phút và kéo dài khoảng 4 đến 6 giờ.

Đối với Clenbuterol, Formoterol và Salmeterol thời gian tác dụng kéo dài đến xấp xỉ 12 giờ [1]. Thời gian hoạt động lâu dài của loại thứ hai là do các phân tử này ban đầu khuếch tán vào màng plasma của tế bào phổi, và sau đã đƣợc giải phóng chậm trở lại bên ngoài tế bào nơi mà chúng cã thể kết hợp với β2-adrenoceptors. Tháng 11/1995 FDA (Mỹ) đƣa ra một tƣ vấn sức khoẻ, báo động cho công chúng: sử dụng các β2-agonist tác dụng dài có thể dẫn tới các triệu chứng xấu và trong vài trƣờng hợp gây tử vong. Giới thiệu về Salbutamol, Clenbuterol và Ractopamine 1.

Thông tin chung 1. Salbutamol - Danh pháp thƣờng: Sabutamol - Danh pháp quốc tế (IUPAC): 4-[2-(tert-butylamino)-1-hydroxyethyl]-2- (hydroxymethyl) phenol - Công thức phân tử: C13H21NO3 - Công thức cấu tạo hai đồng phân quang học của salbutamol - Khối lƣợng phân tử: 239,311 g/mol - Thời gian bán huỷ: 3,8 - 6 giờ 1.Clenbuterol - Danh pháp thƣờng: Clenbterol - Danh pháp quốc tế (IUPAC): (RS)-1-(4-Amino-3,5-dichlorophenyl)-2-(tert- butylamino)ethan-1-ol - Công thức phân tử: C12H18Cl2N2O 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Công thức cấu tạo hai đồng phân quang học của Clenbuterol  - Khối lƣợng phân tử: 277,19 g/mol - Thời gian bán huỷ: 36 – 39 giờ 1.Ractopamine - Danh pháp thƣờng: Ractopamin - Danh pháp quốc tế (IUPAC): 4-[3-[[2-Hydroxy-2-(4- hydroxyphenyl)ethyl]amino]butyl]phenol - Công thức phân tử:C18H23NO3 - Khối lƣợng phân tử: 301,39 g/mol - Công thức cấu tạo của Ractopamine 1. Tính chất và tác dụng của Salbutamol, Clenbuterol và Ractopamine 1. Tác dụng làm giãn phế quản.

• Salbutamol Salbutamol [1-(4-(RS)-hydroxy- 3- hydroxymethylphenyl)- 2-(t-butylamino) ethanol] là chất chủ vận thụ thể adrenergic β2 (β2-adrenoceptor agonist) có tác dụng trên cơ trơn và cơ xƣơng, gồm có: giãn phế quản, giãn cơ tử cung và run. Tác dụng giãn cơ trơn tùy thuộc vào liều dùng và đƣợc cho rằng xảy ra thông qua hệ thống adenyl cyclase - AMP vòng, với việc thuốc gắn vào thụ thể β2-adrenergic tại màng tế bào gây ra sự biến đổi ATP thành AMP vòng làm hoạt hóa protein kinase. Điều này dẫn đến sự phosphoryl hóa các protein và cuối cùng làm gia tăng canxi nội bào 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com loại liên kết; calci nội bào ion hóa bị giảm bớt gây ức chế liên kết actin-myosin, do đó làm giãn cơ trơn. Thuốc chủ vận β2 nhƣ salbutamol cũng có tác dụng chống dị ứng bằng cách tác dụng lên dƣỡng bào làm ức chế sự phóng thích các hóa chất trung gian gây co thắt phế quản nhƣ histamin, yếu tố hóa ứng động bạch cầu đa nhân trung tính (NCF) và prostaglandin D2.

Salbutamol làm giãn phế quản ở cả ngƣời bình thƣờng lẫn bệnh nhân suyễn hay bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) sau khi uống. Salbutamol còn làm gia tăng sự thanh thải tiêm mao nhầy (đã đƣợc chứng minh ở bệnh nhân COPD lẫn ở ngƣời bình thƣờng). Salbutamol kích thích các thụ thể β2 gây ra các tác dụng chuyển hóa lan rộng: tăng lƣợng acid béo tự do, insulin, lactat và đƣờng; giảm nồng độ kali trong huyết thanh. Salbutamol có lẽ là chất có hiệu lực và an toàn nhất trong số các thuốc giãn phế quản loại giống giao cảm.

• Clenbuterol Clenbuterol[(RS)-1-(4-Amino-3,5-dichlorophenyl)-2-(tert-butylamino) ethan-1-ol] là một chất thuộc nhóm β2–agonist, có tác dụng làm giảm cơ trơn phế quản, ổn định màng tế bào mast nên giảm tiết chất trung gian và kích thích cơ vân (gây run), tăng sự vận chuyển dịch nhày nhờ các lông trên đƣờng hô hấp. Thƣờng dùng trong các cơn hen suyễn cấp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ