Khóa luận tốt nghiệp pháp luật việt nam về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thực trạng áp dụng tại địa bàn thành phố hải phòng

Bài viết hướng dẫn cách xác định cha mẹ con trong sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ tại Hải Phòng, đảm bảo tính pháp lý và y tế chính xác.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2020

89
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN

2.1. Khái quát về quan hệ cha, mẹ, con

2.2. Khái quát về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

2.3. Một số khái niệm

2.4. Sơ lược về sự phát triển của phương pháp hỗ trợ sinh sản và một số biện pháp hỗ trợ sinh sản tiêu biểu

2.5. Cơ sở pháp lý của sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

2.6. Các nguyên tắc áp dụng

2.7. Điều kiện áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản

2.8. Khái quát về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

2.9. Khái niệm xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

2.10. Ý nghĩa của chế định xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản

2.11. Căn cứ xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

2.12. Tổng quan lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

2.13. Pháp luật một số nước về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

3. PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

3.1. Pháp luật Việt Nam về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

3.2. Quy định hiện hành về quyền yêu cầu xác định cha mẹ con

3.3. Quy định hiện hành về căn cứ xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

3.4. Quy định hiện hành về thẩm quyền xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

3.5. Quy định hiện hành về trình tự thủ tục xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

3.6. Thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại địa bàn thành phố Hải Phòng

3.6.1. Khái quát chung về thành phố Hải Phòng

3.6.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại thành phố Hải Phòng

3.6.3. Những bất cập và nguyên nhân bất cập của pháp luật về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

4. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH CHA MẸ CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN

4.1. Giải pháp lập pháp hoàn thiện pháp luật xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả việc xác định cha mẹ con trong trường hợp áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

4.3. Một số giải pháp về tổ chức, thực hiện

4.3.1. Kiện toàn bộ máy quản lý hộ tịch

4.3.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch

4.3.3. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về xác định cha mẹ con trong sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ

Xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ là một vấn đề pháp lý phức tạp. Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART) đã mở ra cơ hội cho nhiều cặp vợ chồng vô sinh có thể thực hiện ước mơ làm cha mẹ. Tuy nhiên, việc xác định cha mẹ con trong các trường hợp này không chỉ đơn thuần là vấn đề sinh học mà còn liên quan đến các quy định pháp luật. Điều này đòi hỏi một cái nhìn sâu sắc về các khái niệm và quy định hiện hành.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của xác định cha mẹ con

Xác định cha mẹ con không chỉ là việc xác định huyết thống mà còn liên quan đến quyền và nghĩa vụ pháp lý. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của trẻ em và đảm bảo sự công bằng trong các mối quan hệ gia đình.

1.2. Tình hình sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ tại Hải Phòng

Tại Hải Phòng, việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định cha mẹ con, đặc biệt là trong các trường hợp phức tạp.

II. Những thách thức trong xác định cha mẹ con khi sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ

Việc xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ gặp nhiều thách thức. Các vấn đề pháp lý, xã hội và tâm lý đều có thể ảnh hưởng đến quá trình này. Đặc biệt, sự khác biệt giữa các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng có thể dẫn đến những tranh chấp không đáng có.

2.1. Vấn đề pháp lý trong xác định cha mẹ con

Các quy định pháp luật hiện hành về xác định cha mẹ con chưa hoàn thiện, dẫn đến nhiều bất cập trong thực tiễn. Điều này cần được xem xét và điều chỉnh để phù hợp với thực tế.

2.2. Tác động xã hội đến việc xác định cha mẹ con

Sự thay đổi trong quan niệm về gia đình và mối quan hệ huyết thống cũng ảnh hưởng đến việc xác định cha mẹ con. Cần có sự thay đổi trong nhận thức xã hội để hỗ trợ các gia đình sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

III. Phương pháp xác định cha mẹ con trong sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ

Có nhiều phương pháp để xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ. Các phương pháp này không chỉ dựa vào yếu tố sinh học mà còn phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành. Việc áp dụng các phương pháp này cần được thực hiện một cách cẩn thận và chính xác.

3.1. Các phương pháp sinh học trong xác định cha mẹ con

Các phương pháp sinh học như xét nghiệm ADN có thể được sử dụng để xác định huyết thống. Tuy nhiên, việc áp dụng các phương pháp này cần phải tuân thủ quy định pháp luật.

3.2. Quy trình pháp lý trong xác định cha mẹ con

Quy trình pháp lý để xác định cha mẹ con bao gồm việc nộp đơn yêu cầu và thực hiện các thủ tục cần thiết. Điều này đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho trẻ em và các bên liên quan.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Hải Phòng

Nghiên cứu về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ tại Hải Phòng cho thấy nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho trẻ em và các bậc phụ huynh.

4.1. Kết quả thực tiễn từ các ca sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ

Nhiều cặp vợ chồng đã thành công trong việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ. Tuy nhiên, việc xác định cha mẹ con vẫn gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn.

4.2. Đề xuất giải pháp cải thiện quy trình xác định cha mẹ con

Cần có các giải pháp cụ thể để cải thiện quy trình xác định cha mẹ con, bao gồm việc hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao nhận thức xã hội về vấn đề này.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai trong xác định cha mẹ con

Việc xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ là một vấn đề quan trọng và cần thiết. Cần có sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu và xã hội để giải quyết các vấn đề còn tồn tại.

5.1. Tầm quan trọng của việc xác định cha mẹ con

Xác định cha mẹ con không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề nhân văn. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của trẻ em và đảm bảo sự công bằng trong xã hội.

5.2. Hướng phát triển tương lai trong lĩnh vực này

Cần có các nghiên cứu sâu hơn về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ để đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn trong tương lai.

11/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Chương 2: Pháp luật Việt Nam về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và thực trạng áp dụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƢỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN.

Khái quát về quan hệ cha, mẹ, con Quan hệ cha, mẹ, con là quan hệ thiêng liêng trong cuộc đời mỗi con người, không ai là không có cha mẹ. Để hiểu được mối quan hệ này cần tìm hiểu về khái niệm cha, mẹ, con. Khái niệm cha, mẹ, con được nhìn nhận dưới hai góc góc độ: sinh học và pháp lý. Dưới góc độ sinh học, với tư cách là một quan hệ tự nhiên gắn liền sự kiện thành thai và sinh sản, người mẹ được hiểu là người phụ nữ sinh ra đứa trẻ còn người cha được hiểu là người có quan hệ xác thịt với người phụ nữ khiến người này mang thai.

Theo đó, cha, mẹ đẻ là người có quan hệ huyết thống trực hệ với người con, con có hệ mã gen của cha, mẹ và do mẹ trực tiếp sinh ra. Tuy nhiên đối với trường hợp sinh sản nhân tạo, trường hợp người vợ mang thai, nhưng bào thai là kết quả của sự phối hợp giữa trứng và tinh trùng của người khác hoặc trứng của người vợ và tinh trùng của người khác; hoặc nếu sự thụ tinh là kết quả sự phối hợp giữa các yếu tố vật chất của vợ và chồng, nhưng việc mang thai lại do một người phụ nữ khác thực hiện, thì thực tiễn có xu hướng thừa nhận rằng đứa trẻ sinh ra có cha và mẹ ruột là người chồng và người vợ đó còn người mang thai hộ; người cung cấp yếu tố vật chất chỉ đóng vai trò là sự hỗ trợ cần thiết cho sự ra đời của đứa trẻ. Như vậy, dưới góc độ sinh học thì cha đẻ, mẹ đẻ, trong quan hệ với con, là người đàn ông, đàn bà trực tiếp sinh ra con, có hoặc không có quan hệ huyết thống; con đẻ, trong mối quan hệ với cha, mẹ là đứa trẻ do người đàn ông, đàn bà trực tiếp sinh ra, có hoặc không có quan hệ huyết thống. Dưới góc độ pháp lý, tư cách cha, mẹ, con luôn gắn liền với các sự kiện pháp lý nhất định và quan hệ cha, mẹ, con chỉ phát sinh khi có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Cha đẻ, mẹ đẻ trong mối quan hệ với con được hiểu là người trực tiếp sinh ra, có quyền và nghĩa vụ với con theo quy định pháp luật. Con đẻ trong mối 6 quan hệ với cha, mẹ là người được cha mẹ sinh ra, có quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Các khái niệm cha, mẹ, con được hình thành kéo theo sự hình thành quan hệ cha, mẹ, con. Đây không chỉ là một quan hệ xã hội thuần túy mà con là quan hệ pháp lý, không chỉ liên quan đến cá nhân mà còn là xã hội.

Do đó việc xác định cha, mẹ, con là vấn đề quan trọng cần đảm bảo để giữ gìn trật tự xã hội. Khái quát về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Một số khái niệm Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là một trong những phát minh vĩ đại của loài người mang lại niềm vui cho hàng triệu cặp vợ chồng trên thế giới. Edwards - là nhà sinh lý học người Anh tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu khả năng sinh sản ở người, đặc biệt là sinh sản bằng TTTON (IVF).

Để hiều rõ được vấn đề này trước hết cần tìm hiểu một số thuật ngữ chuyên ngành trong y học: - Noãn là giao tử của người phụ nữ. - Tinh trùng là giao tử của người đàn ông. - Phôi là sản phẩm giữa tinh trùng và trứng. - TTTON là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm tạo thành phôi.

- TTNT là việc bơm tinh trùng của chồng hoặc người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ để tạo thành phôi Ở Việt Nam thuật ngữ “Sinh con bằng phương pháp khoa học” được nhắc đến lần đầu tiên trong Luật HN & GĐ năm 2000, nay được định nghĩa lại tại Khoản 21 Điều 3 Luật HN & GĐ năm 2014: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật TTNT hoặc TTTON”. 7 Định nghĩa này mang tính chất pháp lý được xây dựng bằng phương pháp liệt kê do đó chưa thể giải thích được rõ thế nào là “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” như các định nghĩa dưới góc độ y học. Điển hình như định nghĩa của Phòng sức khỏe sinh sản – Trung tâm phòng chống bệnh mãn tính và tăng cường sức khỏe Hoa Kỳ, từ “kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” (Assisted Reproductive Technology - A.) bao gồm tất cả các phương pháp điều trị sinh sản, trong đó cả trứng và phôi được xử lý bên ngoài cơ thể. Nói chung, các thủ tục điều trị ART bao gồm lấy trứng trưởng thành khỏi buồng trứng của người phụ nữ bằng kim, kết hợp trứng với tinh trùng trong phòng thí nghiệm và trả lại phôi cho cơ thể người phụ nữ hoặc tặng chúng cho người phụ nữ khác.

Ngoài ra còn một số định nghĩa khác được sử dụng trên thế giới như: - Định nghĩa của Thư viện y khoa Hoa Kì: “Công nghệ hỗ trợ sinh sản (ART) được sử dụng để điều trị vô sinh. Nó bao gồm các phương pháp điều trị sinh sản xử lý cả trứng của phụ nữ và tinh trùng của đàn ông. Nó hoạt động bằng cách đưa trứng khỏi cơ thể phụ nữ. Sau đó trứng được trộn với tinh trùng để tạo phôi.

Các phôi sau đó được đưa trở lại trong cơ thể của người phụ nữ”. - Định nghĩa của Viện sức khỏe và trẻ em Hoa Kì: “ART đề cập đến các phương pháp điều trị và thủ tục nhằm mục đích mang thai. - Định nghĩa của Cơ quan điều trị hỗ trợ sinh sản Victoria (VARTA), Tiểu bang Victory, Úc: “ART liên quan đến các công nghệ và các phương pháp, được sử dụng để giúp người ta đạt được việc có thai. ART được sử dụng: như một biện pháp điều trị hiếm muộn cho các cặp đôi; bởi những phụ nữ không thể có thai được nếu không được điều trị; bởi những phụ nữ không thể giữ được em bé trong thời gian mang thai hoặc không thể sinh nở được nếu không được điều trị; để làm giảm nguy cơ em bé thừa kế một bệnh hay một dị tật di truyền nào đó.

8 - Định nghĩa của bác sỹ Hồ Mạnh Tường – một trong những bác sỹ đầu tiên áp dụng kỹ thuật ART tại Việt Nam: “Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là những kỹ thuật kết hợp giữa y học và sinh học, can thiệp vào các bước trong sinh lý sinh sản tự nhiên nhằm giúp làm tăng khả năng sinh sản. Các Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ứng các tiến bộ về nội tiết học và sinh học để can thiệp trên giao tử (tinh trùng, noãn) và phôi. Có thể thấy trong các định nghĩa trên, có định nghĩa chỉ thu hẹp trong việc điều trị việc vô sinh, hiếm muộn cũng có định nghĩa rộng hơn là nhằm mục đích mang thai. Thật vậy, trong thời đại 4.0 nhiều quốc gia cho phép phụ nữ độc thân sử dụng phương pháp này với mong muốn có con mà không thuộc trường hợp vô sinh hay hiếm muộn.

Như vậy có thể hiểu rộng ra, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con có sử dụng các biện pháp kỹ thuật y học hiện đại để can thiệp vào quá trình thụ thai của người phụ nữ với mục đích giúp những cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh hoặc phụ nữ độc thân có thể mang thai và có những đứa con như họ ước muốn. Việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cần thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể. Sơ lƣợc về sự phát triển của phƣơng pháp hỗ trợ sinh sản và một số biện pháp hỗ trợ sinh sản tiêu biểu 1.1 Sơ lƣợc về sự phát triển của phƣơng pháp hỗ trợ sinh sản Trên thế giới, ước muốn về việc sinh con bằng phương pháp khoa học đã tồn tại và phát triển từ hơn 200 năm nay. Vào khoảng năm 1890, nhà khoa học Walter Heape chuyển một quả trứng được thụ tinh từ một con thỏ Angora sang một giống khác và thấy rằng con thỏ con Angora được sinh ra, kỹ thuật TTTON – IVF đã bắt đầu hình thành.

Năm 1978, Louise Brown – đứa trẻ đầu tiên ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống ở Oldham, Anh vào ngày 25 tháng 7. Đây là kết quả của công việc hợp tác 9 của Patrick Steptoe và Robert Edwards. Tiếp sau đó là sự ra đời hai em bé TTTON ở Anh. Năm 1980, lần sinh IVF đầu tiên tại Úc thực hiện bởi nhóm Victoria Monash- Melbourne diễn ra thành công.

Trung tâm Monash ở Úc được ghi nhận là nơi thứ hai trên thế giới thực hiện thành công IVF. Năm 1981, Howard và Georgianna Seegar Jones tuyên bố em bé IVF đầu tiên ở Hoa Kỳ ra đời, với việc sử dụng HMG – phương pháp kích thích buồng trứng. Năm 1982, các em bé thụ tinh ống nghiệm ở Pháp, Thụy Điển, Áo lần lượt được sinh ra. Năm 1983, ca cho – nhận trứng đầu tiên thành công đánh dấu sự ra đời của của em bé phôi đông lạnh đầu tiên bởi nhóm nghiên cứu Monash IVF.

Năm 1984, công bố Đạo luật vô sinh, điều chỉnh về thụ tinh ống nghiệm và nghiên cứu liên quan đến phôi người. Cùng với đó là phẫu thuật chuyển phôi thai đầu tiên ở California. Năm 1986: Monash IVF báo cáo về việc mang thai và sinh con đầu tiên trên thế giới từ hoạt động lấy tinh trùng được thực hiện trên một bệnh nhân bị tắc ống dẫn tinh trùng. Năm 1989: Báo cáo đầu tiên về việc sử dụng kỹ thuật laser trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, áp dụng với giao tử hoặc phôi; báo cáo về sinh thiết phôi tiền sinh sản của con người và quan hệ tình dục bằng cách khuếch đại DNA.

Năm 1992: Báo cáo thai kỳ đầu tiên sau khi tiêm tinh trùng vào bào tương (ICSI) của nhóm ở Brussel bởi Palemo và cộng sự. Năm 1995: Ca sinh nở đầu tiên sau khi phát triển phôi nang từ trứng IVM được ICSI, cộng với hỗ trợ phôi thoát màng (Assisted Hatching).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khóa luận về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại Hải Phòng" của tác giả Lưu Thị Khánh Linh, dưới sự hướng dẫn của TS Ngô Thanh Hương, tập trung vào các vấn đề pháp lý liên quan đến việc xác định cha mẹ con trong bối cảnh sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng áp dụng pháp luật tại Hải Phòng mà còn phân tích những thách thức và giải pháp cần thiết để cải thiện quy định hiện hành. Những thông tin này sẽ hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực pháp luật Việt Nam, đặc biệt là trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em và gia đình.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm hiểu biết của mình về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết như Luận văn thạc sĩ về xác định đương sự trong vụ án dân sự tại Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội, nơi phân tích về việc xác định các bên liên quan trong vụ án, hay Luận văn thạc sĩ về thương lượng tập thể: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, cung cấp cái nhìn về thương lượng trong bối cảnh pháp luật Việt Nam. Một bài viết khác bạn cũng nên xem là Luận văn thạc sĩ về cấp dưỡng gia đình theo pháp luật Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về nghĩa vụ cấp dưỡng trong gia đình theo quy định pháp luật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến pháp luật và quyền lợi của các bên trong mối quan hệ gia đình.