Chương 1: Những vấn đề lý luận về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Chương 2: Pháp luật Việt Nam về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và thực trạng áp dụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƢỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN.
Khái quát về quan hệ cha, mẹ, con Quan hệ cha, mẹ, con là quan hệ thiêng liêng trong cuộc đời mỗi con người, không ai là không có cha mẹ. Để hiểu được mối quan hệ này cần tìm hiểu về khái niệm cha, mẹ, con. Khái niệm cha, mẹ, con được nhìn nhận dưới hai góc góc độ: sinh học và pháp lý. Dưới góc độ sinh học, với tư cách là một quan hệ tự nhiên gắn liền sự kiện thành thai và sinh sản, người mẹ được hiểu là người phụ nữ sinh ra đứa trẻ còn người cha được hiểu là người có quan hệ xác thịt với người phụ nữ khiến người này mang thai.
Theo đó, cha, mẹ đẻ là người có quan hệ huyết thống trực hệ với người con, con có hệ mã gen của cha, mẹ và do mẹ trực tiếp sinh ra. Tuy nhiên đối với trường hợp sinh sản nhân tạo, trường hợp người vợ mang thai, nhưng bào thai là kết quả của sự phối hợp giữa trứng và tinh trùng của người khác hoặc trứng của người vợ và tinh trùng của người khác; hoặc nếu sự thụ tinh là kết quả sự phối hợp giữa các yếu tố vật chất của vợ và chồng, nhưng việc mang thai lại do một người phụ nữ khác thực hiện, thì thực tiễn có xu hướng thừa nhận rằng đứa trẻ sinh ra có cha và mẹ ruột là người chồng và người vợ đó còn người mang thai hộ; người cung cấp yếu tố vật chất chỉ đóng vai trò là sự hỗ trợ cần thiết cho sự ra đời của đứa trẻ. Như vậy, dưới góc độ sinh học thì cha đẻ, mẹ đẻ, trong quan hệ với con, là người đàn ông, đàn bà trực tiếp sinh ra con, có hoặc không có quan hệ huyết thống; con đẻ, trong mối quan hệ với cha, mẹ là đứa trẻ do người đàn ông, đàn bà trực tiếp sinh ra, có hoặc không có quan hệ huyết thống. Dưới góc độ pháp lý, tư cách cha, mẹ, con luôn gắn liền với các sự kiện pháp lý nhất định và quan hệ cha, mẹ, con chỉ phát sinh khi có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Cha đẻ, mẹ đẻ trong mối quan hệ với con được hiểu là người trực tiếp sinh ra, có quyền và nghĩa vụ với con theo quy định pháp luật. Con đẻ trong mối 6 quan hệ với cha, mẹ là người được cha mẹ sinh ra, có quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Các khái niệm cha, mẹ, con được hình thành kéo theo sự hình thành quan hệ cha, mẹ, con. Đây không chỉ là một quan hệ xã hội thuần túy mà con là quan hệ pháp lý, không chỉ liên quan đến cá nhân mà còn là xã hội.
Do đó việc xác định cha, mẹ, con là vấn đề quan trọng cần đảm bảo để giữ gìn trật tự xã hội. Khái quát về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Một số khái niệm Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là một trong những phát minh vĩ đại của loài người mang lại niềm vui cho hàng triệu cặp vợ chồng trên thế giới. Edwards - là nhà sinh lý học người Anh tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu khả năng sinh sản ở người, đặc biệt là sinh sản bằng TTTON (IVF).
Để hiều rõ được vấn đề này trước hết cần tìm hiểu một số thuật ngữ chuyên ngành trong y học: - Noãn là giao tử của người phụ nữ. - Tinh trùng là giao tử của người đàn ông. - Phôi là sản phẩm giữa tinh trùng và trứng. - TTTON là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm tạo thành phôi.
- TTNT là việc bơm tinh trùng của chồng hoặc người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ để tạo thành phôi Ở Việt Nam thuật ngữ “Sinh con bằng phương pháp khoa học” được nhắc đến lần đầu tiên trong Luật HN & GĐ năm 2000, nay được định nghĩa lại tại Khoản 21 Điều 3 Luật HN & GĐ năm 2014: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật TTNT hoặc TTTON”. 7 Định nghĩa này mang tính chất pháp lý được xây dựng bằng phương pháp liệt kê do đó chưa thể giải thích được rõ thế nào là “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” như các định nghĩa dưới góc độ y học. Điển hình như định nghĩa của Phòng sức khỏe sinh sản – Trung tâm phòng chống bệnh mãn tính và tăng cường sức khỏe Hoa Kỳ, từ “kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” (Assisted Reproductive Technology - A.) bao gồm tất cả các phương pháp điều trị sinh sản, trong đó cả trứng và phôi được xử lý bên ngoài cơ thể. Nói chung, các thủ tục điều trị ART bao gồm lấy trứng trưởng thành khỏi buồng trứng của người phụ nữ bằng kim, kết hợp trứng với tinh trùng trong phòng thí nghiệm và trả lại phôi cho cơ thể người phụ nữ hoặc tặng chúng cho người phụ nữ khác.
Ngoài ra còn một số định nghĩa khác được sử dụng trên thế giới như: - Định nghĩa của Thư viện y khoa Hoa Kì: “Công nghệ hỗ trợ sinh sản (ART) được sử dụng để điều trị vô sinh. Nó bao gồm các phương pháp điều trị sinh sản xử lý cả trứng của phụ nữ và tinh trùng của đàn ông. Nó hoạt động bằng cách đưa trứng khỏi cơ thể phụ nữ. Sau đó trứng được trộn với tinh trùng để tạo phôi.
Các phôi sau đó được đưa trở lại trong cơ thể của người phụ nữ”. - Định nghĩa của Viện sức khỏe và trẻ em Hoa Kì: “ART đề cập đến các phương pháp điều trị và thủ tục nhằm mục đích mang thai. - Định nghĩa của Cơ quan điều trị hỗ trợ sinh sản Victoria (VARTA), Tiểu bang Victory, Úc: “ART liên quan đến các công nghệ và các phương pháp, được sử dụng để giúp người ta đạt được việc có thai. ART được sử dụng: như một biện pháp điều trị hiếm muộn cho các cặp đôi; bởi những phụ nữ không thể có thai được nếu không được điều trị; bởi những phụ nữ không thể giữ được em bé trong thời gian mang thai hoặc không thể sinh nở được nếu không được điều trị; để làm giảm nguy cơ em bé thừa kế một bệnh hay một dị tật di truyền nào đó.
8 - Định nghĩa của bác sỹ Hồ Mạnh Tường – một trong những bác sỹ đầu tiên áp dụng kỹ thuật ART tại Việt Nam: “Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là những kỹ thuật kết hợp giữa y học và sinh học, can thiệp vào các bước trong sinh lý sinh sản tự nhiên nhằm giúp làm tăng khả năng sinh sản. Các Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ứng các tiến bộ về nội tiết học và sinh học để can thiệp trên giao tử (tinh trùng, noãn) và phôi. Có thể thấy trong các định nghĩa trên, có định nghĩa chỉ thu hẹp trong việc điều trị việc vô sinh, hiếm muộn cũng có định nghĩa rộng hơn là nhằm mục đích mang thai. Thật vậy, trong thời đại 4.0 nhiều quốc gia cho phép phụ nữ độc thân sử dụng phương pháp này với mong muốn có con mà không thuộc trường hợp vô sinh hay hiếm muộn.
Như vậy có thể hiểu rộng ra, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con có sử dụng các biện pháp kỹ thuật y học hiện đại để can thiệp vào quá trình thụ thai của người phụ nữ với mục đích giúp những cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh hoặc phụ nữ độc thân có thể mang thai và có những đứa con như họ ước muốn. Việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cần thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể. Sơ lƣợc về sự phát triển của phƣơng pháp hỗ trợ sinh sản và một số biện pháp hỗ trợ sinh sản tiêu biểu 1.1 Sơ lƣợc về sự phát triển của phƣơng pháp hỗ trợ sinh sản Trên thế giới, ước muốn về việc sinh con bằng phương pháp khoa học đã tồn tại và phát triển từ hơn 200 năm nay. Vào khoảng năm 1890, nhà khoa học Walter Heape chuyển một quả trứng được thụ tinh từ một con thỏ Angora sang một giống khác và thấy rằng con thỏ con Angora được sinh ra, kỹ thuật TTTON – IVF đã bắt đầu hình thành.
Năm 1978, Louise Brown – đứa trẻ đầu tiên ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống ở Oldham, Anh vào ngày 25 tháng 7. Đây là kết quả của công việc hợp tác 9 của Patrick Steptoe và Robert Edwards. Tiếp sau đó là sự ra đời hai em bé TTTON ở Anh. Năm 1980, lần sinh IVF đầu tiên tại Úc thực hiện bởi nhóm Victoria Monash- Melbourne diễn ra thành công.
Trung tâm Monash ở Úc được ghi nhận là nơi thứ hai trên thế giới thực hiện thành công IVF. Năm 1981, Howard và Georgianna Seegar Jones tuyên bố em bé IVF đầu tiên ở Hoa Kỳ ra đời, với việc sử dụng HMG – phương pháp kích thích buồng trứng. Năm 1982, các em bé thụ tinh ống nghiệm ở Pháp, Thụy Điển, Áo lần lượt được sinh ra. Năm 1983, ca cho – nhận trứng đầu tiên thành công đánh dấu sự ra đời của của em bé phôi đông lạnh đầu tiên bởi nhóm nghiên cứu Monash IVF.
Năm 1984, công bố Đạo luật vô sinh, điều chỉnh về thụ tinh ống nghiệm và nghiên cứu liên quan đến phôi người. Cùng với đó là phẫu thuật chuyển phôi thai đầu tiên ở California. Năm 1986: Monash IVF báo cáo về việc mang thai và sinh con đầu tiên trên thế giới từ hoạt động lấy tinh trùng được thực hiện trên một bệnh nhân bị tắc ống dẫn tinh trùng. Năm 1989: Báo cáo đầu tiên về việc sử dụng kỹ thuật laser trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, áp dụng với giao tử hoặc phôi; báo cáo về sinh thiết phôi tiền sinh sản của con người và quan hệ tình dục bằng cách khuếch đại DNA.
Năm 1992: Báo cáo thai kỳ đầu tiên sau khi tiêm tinh trùng vào bào tương (ICSI) của nhóm ở Brussel bởi Palemo và cộng sự. Năm 1995: Ca sinh nở đầu tiên sau khi phát triển phôi nang từ trứng IVM được ICSI, cộng với hỗ trợ phôi thoát màng (Assisted Hatching).