Phần mở đầu Phần nội dung: gồm 3 chương: Chƣơng 1: Bối cảnh giáo dục Đại học thế giới và Trung Quốc Chƣơng 2: Áp dụng phƣơng pháp SWOT để phân tích chính sách xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phần kết luận 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: BỐI CẢNH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ TRUNG QUỐC 1. Một số thuật ngữ cơ bản Xã hội hóa giáo dục là một xu hướng phát triển hiện nay ở các nước phát triển và đang phát triển. Bản chất của xã hội hội hóa giáo dục là sự tham gia của xã hội vào giáo dục trên cả hai mặt tiếp nhận giáo dục và đóng góp vào sự phát triển giáo dục.
Xã hội hóa giáo dục chính là công cụ để tăng cơ hội tiếp cận với giáo dục cho mọi người, đóng góp thêm với ngân sách nhà nước để đầu tư mạnh vào giáo dục và thúc đẩy tiến trình tiến tới một xã hội học tập. Trên thế giới, nhiều nước không sử dụng thuật ngữ xã hội hóa giáo dục mà dùng nhiều thuật ngữ liên quan tới các nội dung ít nhiều khác nhau ở mỗi quốc gia. Phi tập trung hóa với hai nội dung: Phân quyền hạn và trách nhiệm từ trung ương xuống địa phương, từ các cơ quan quản lý cấp trên xuống các cơ quan quản lý cấp dưới; Huy động sự tham gia của cộng đồng, của các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quần chúng vào phát triển giáo dục. Giáo dục đại chúng - đưa học vấn đến cho mọi người.
Thập kỷ 90 được UNESCO lấy làm “thập kỷ giáo dục cho mọi người” với mục tiêu phát triển giáo dục cơ sở, giáo dục thường xuyên. Các mục tiêu này được cụ thể thành các tiêu chí như tỷ lệ trẻ em học mẫu giáo, tỷ lệ trẻ em học tiểu học, tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn… Giáo dục suốt đời đề cập đến một quá trình học tập liên tục, trong đó mỗi người đều có cơ hội để tiếp tục học tập có mục đích và liên tục để người học không bị lạc hậu so với những biến đổi của xã hội và kỹ thuật nhằm phát triển tối đa tiềm lực cá nhân ở nhiều phương diện khác nhau. Ở Mỹ, giáo dục suốt đời chỉ mọi cơ hội giáo dục từ tiểu học, trung học đến sau trung học do các cơ sở giáo dục công lập hoặc ngoài công lập tổ chức, trong đó người theo học bao gồm đủ mọi lứa tuổi tham gia nhằm nâng cao trình độ khoa học, nghề nghiệp, sử dụng thời gian nhàn rỗi để phát triển cá nhân. Trong khối các nước OECD, giáo dục suốt đời bao gồm cả 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những hoạt động giáo dục không chính quy, ngoài nhà trường, ở đó việc học tập là sản phẩm ngẫu nhiên của cuộc sống.
Xã hội học tập: Báo cáo của “Hội đồng quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI (UNESCO – Pari công bố tháng 4/1996) đã đưa ra triết lý giáo dục của thế kỷ XXI, cụ thể là phải dựa trên bốn cột trụ, trên nền tảng: học suốt đời và hướng về “xã hội học tập[6,tr. Giáo dục cộng đồng: Theo nghĩa rộng nhất của nó là nguyên tắc xuất phát của mọi hoạt động giáo dục đáp ứng mọi lợi ích của cộng đồng và hướng vào việc cải thiện chất lượng cuộc sống. Giáo dục cộng đồng với nghĩa hẹp hơn chỉ toàn bộ các hoạt động xã hội, giải trí, văn hóa và giáo dục được tổ chức bên ngoài hệ nhà trường chính quy cho mọi người ở mọi lứa tuổi có dự định cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Công bằng xã hội trong giáo dục: Theo một số nghiên cứu giáo dục của UNESCO, công bằng xã hội trong giáo dục liên quan đến việc tạo ra các cơ hội về giáo dục ngang nhau giữa mọi người.
Có hai khía cạnh liên quan đến quan điểm “về giáo dục ngang nhau giữa mọi người”. Đó là sự bình đẳng để được tiếp cận, tham gia vào quá trình giáo dục và bình đẳng trong khi tham gia vào quá trình đó. Sự tham gia và tiếp cận với giáo dục liên quan tới những cơ hội ngang nhau trong việc học sinh (hay các công dân) được đến trường, có đủ điều kiện học tập. Sự bình đẳng khi tham gia vào quá trình giáo dục liên quan tới việc tạo ra các cơ hội ngang nhau cho mọi công dân khi họ đã tham gia vào quá trình học tập, nghĩa là liên quan đến việc đối xử bình đẳng với học sinh khi các em được học tập tại các cơ sở đào tạo khác nhau cho dù công lập hay ngoài công lập.
Điều này cũng có nghĩa là nếu học sinh ở các điều kiện kinh tế, địa lý, chính trị, xã hội khác nhau thì các em phải có những chương trình giáo dục phù hợp, bao gồm cả hình thức, nội dung và phương pháp giáo dục. Việc cung cấp các chương trình giáo dục phù hợp với các đối tượng học sinh cũng được hiểu là sự đối xử bình đẳng và công bằng trong giáo dục đối với học sinh. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về khái niệm “xã hội hóa giáo dục đại học”, các chuyên gia đã đưa ra nhiều ý kiến. Quan điểm tương đối phổ biến là: xã hội hóa giáo dục đại học là đưa cơ chế thị trường vào giáo dục đại học làm cho giáo dục đại học mang tính thị trường hóa.
Năm 1997, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD đưa ra khái niệm xã hội hóa giáo dục đại học: “Xã hội hóa giáo dục đại học là đưa cơ chế thị trường vào giáo dục đại học làm cho giáo dục đại học mang những đặc trưng của cơ chế thị trường như tính cạnh tranh, tính lựa chọn, tính giá cả…Nó loại bỏ nền công hữu hóa truyền thống và cũng loại bỏ tuyệt đối tư hữu hóa. 46]。Căn cứ vào định nghĩa trên có thể thấy xã hội hóa giáo dục đại học vừa không phải là tuyệt đối tư hữu hóa vừa không phải tuyệt đối công hữu hóa mà là một quá trình đi sâu vào cơ chế thị trường làm quá trình giáo dục ở bậc đại học mang những đặc trưng như tính cạnh tranh, tính tự chủ, tính thích nghi của cơ chế thị trường. Kiểu giáo dục đại học này ngày càng bị ảnh hưởng và điều phối của thị trường. Do vậy, giáo dục đại học cần phát triển theo xu hướng phát triển chung của kinh tế xã hội.
Tại Trung Quốc, khái niệm xã hội hóa giáo dục bắt đầu xuất hiện năm 1985 trong “Quyết định cải cách chế độ giáo dục” của nhà nước Trung Quốc, với nội hàm ý nghĩa là chuyển đổi từ chế độ nhà nước bao cấp toàn bộ về mặt tài chính sang chế độ nhà nước và nhân dân cùng nhau đóng góp trong giáo dục. Học giả Trương Kim Phúc trong nghiên cứu “Xã hội hóa đại học: Động lực, ảnh hưởng và xu thế” đăng trên Tạp chí Học viện Sư phạm Ngọc Lâm – NXB Triết học xã hội 2001 cho rằng: Xã hội hóa giáo dục đại học là quá trình đưa các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường như cạnh tranh lành mạnh, trao đổi công bằng… vào hoạt động của giáo dục đại học, từ đó làm giáo dục đại học mở rộng quyền tự chủ, hạn chế sự can thiệp tương đối sâu sắc của chính phủ. Giáo dục đại 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học có khả năng tự đối mặt với nền kinh tế thị trường và đáp ứng đầy đủ nhu cầu của xã hội. 79] Một số tác giả khác thì lại cho rằng: “Xã hội hóa giáo dục đại học, trước hết chính là giáo dục đại học phải thích nghi với xã hội, phục vụ nền kinh tế xã hội, đồng thời phục vụ cuộc sống xã hội.” Theo các tác giả này thì nội dung xã hội hóa giáo dục nói chung và xã hội hóa giáo dục đại học nói riêng bao gồm hai nội dung chính: thứ nhất là phục vụ toàn xã hội do đối tượng của giáo dục lúc này đã xã hội hóa, toàn dân hóa và đại chúng hóa; thứ hai là sản xuất hóa nền giáo dục để có thể kết hợp giữa lao động sản xuất với giáo dục, làm cho giáo dục thực sự trở thành yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thỏa mãn nhu cầu được giáo dục của đông đảo mọi người.
Xã hội hóa giáo dục đại học là một đặc trưng trong nền kinh tế thị trường, chỉ cơ chế thị trường đi sâu vào lĩnh vực giáo dục, trong đó thị trường trở thành phương thức chủ yếu trong việc phân phối các tài nguyên giáo dục, thông qua cơ chế thị trường để điều tiết hành vi cung cầu giữa thị trường và giáo dục, từ đó đưa giáo dục đạt tới trạng thái cân bằng cung cầu. Trên cơ sở cơ chế thị trường, trường học cũng giống như một doanh nghiệp mà trong đó sẽ đặt lợi nhuận làm mục đích cuối cùng, học sinh – người tiêu dùng và nhà trường phải tuân theo quy luật thị trường, căn cứ vào giá cả và quan hệ cung cầu mà tiến hành “giao dịch”. Trong quá trình này, sự quản lý của nhà nước chuyển từ trực tiếp sang gián tiếp, trường học ngày càng bộc lộ những đặc trưng của cơ chế thị trường như tính tự chủ, tự lợi, đa dạng hóa, quy phạm hóa… Xã hội hóa giáo dục có 3 đặc trưng chính: Đặc trưng 1. Tính tự chủ của các trường đại học, chính phủ giao quyền tự chủ hoàn toàn cho các trường đại học để các trường tự căn cứ vào đặc điểm và ưu thế của trường mình mà tự đề ra các phương hướng phát triển Đặc trưng 2.
Thay đổi phương thức thu hút vốn. Trước đây chính phủ là chủ thể cung cấp vốn duy nhất, hiện nay chính phủ phối hợp với các tổ chức xã hội cùng nhau tạo vốn cho các trường. 1 (“大学市场化市直把市场经济的基本法则公平竞争,等价交换等引进高等教育活动中,是大学能免 受政府对其的严格管制和过度干预,具有较大的自主权,以便能积极地面对市场,麻木社会的要 求”) (张金福。大学市场化:动因,影响与趋势,玉林师范学院学报,哲学社会科学 2001) 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc trưng 3. Thực chất của thị trường hóa giáo dục đại học là xây dựng “thị trường chuẩn”.