Chương 1. Một số vấn đề lý luận về công chứng, chứng thực và xã hội hoá hoạt động công chứng, chứng thực. Thực trạng pháp luật về công chứng, chứng thực và xã hội hoá dịch vụ công chứng ở thành phố Hà Nội. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực và nâng cao hiệu quả xã hội hoá hoạt động công chứng, chứng thực ở thành phố Hà Nội hiện nay.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC VÀ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC 1. Một số vấn đề lý luận về công chứng, chứng thực 1. Khái niệm công chứng, khái niệm chứng thực Khái niệm công chứng đâu đó đã được nhắc đến ở nước ta từ những năm 1930 dưới thời Pháp thuộc, tuy nhiên thuật ngữ này mãi đến năm 1987 mới được sử dụng rộng rãi hơn. Việc xác định chính xác khái niệm công chứng có ý nghĩa và vai trò quan trọng, nó không những ảnh hưởng đến mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động mà căn cứ vào nó người ta còn có thể xác định được phạm vi, nội dung công chứng và thậm chí đến cả các quyền và nghĩa vụ của những cá nhân, tổ chức được nhà nước giao cho quyền năng này.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Công chứng là sự chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác nhận về mặt pháp lý các văn bản và bản sao từ bản gốc” [23], còn theo nghĩa thông thường thì công chứng là “công quyền làm chứng”. Về mặt pháp lý, khái niệm công chứng được chính thức quy định trong văn bản pháp luật tại thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước. Theo thông tư số 574/QLTPK thì: Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hoá các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp với hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa [2].
Từ đó đến nay khái niệm công chứng được tiếp tục quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, đó là: Điều 1 Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước; Điều 1 Nghị định số 3 L/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước; Điều 2 Nghị định số 75/2000/NĐ – CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực, Điều 2 Luật công chứng được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 (có hiệu lực ngày 01/07/2007). Hiện nay, khái niệm công chứng được quy định tại Điều 2 Luật công chứng được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 20/06/2014 (có hiệu lực ngày 01/01/2015) (Sau đây được gọi là Luật công chứng năm 2014). Khái niệm công chứng theo Điều 2 Luật công chứng được hiểu như sau: Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (Sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (Sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng [10, Điều 2]. Khái niệm nêu trên đã thể hiện được đúng bản chất của hoạt động công chứng, nêu được rõ chủ thể, mục đích của hoạt động này cũng như các hành 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vi mà chủ thế tiến hành khi thực hiện hoạt động công chứng, xác định được giá trị pháp lý của văn bản công chứng.
Khái niệm còn thể hiện được ý muốn chủ quan của chủ thể tham gia hoạt động công chứng. Theo đó kể cả trong trường hợp mà pháp luật không yêu cầu nhưng chủ thể yêu cầu công chứng đề nghị thì các hợp đồng, giao dịch đó vẫn được công chứng (nội dung hợp đồng, giao dịch không trái pháp luật và đạo đức xã hội). Cụ thể: Chủ thể của hoạt động công chứng là các cá nhân (cụ thể là các công chứng viên) được nhà nước giao quyền trực tiếp thực hiện các hành vi đó chứ không phải là cơ quan chủ quản (Phòng công chứng, Văn phòng công chứng, hay các lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước nước ngoài) của các cá nhân đó. Công chứng viên tự chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về việc công chứng do mình thực hiện (Điều này phù hợp với nguyên tắc được quy định tại Điều 3 Luật công chứng năm 2014).
Đối tượng của hoạt động công chứng là các giao dịch, hợp đồng được xác lập trong các quan hệ kinh tế, thương mại, dân sự; công chứng tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (Ví dụ như dịch Bằng tốt nghiệp từ tiếng Việt sang Tiếng anh rồi công chứng vào bản dịch đó). Các hợp đồng, giao dịch này có thể được pháp luật yêu cầu phải công chứng hoặc tuy pháp luật không yêu cầu phải công chứng nhưng được các chủ thể yêu cầu công chứng đề nghị. Nội dung của hoạt động công chứng là chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch; tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt [10] (Ví dụ: Chứng nhận Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư). Tất cả đều nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức tham gia Hợp đồng, giao dịch … ngăn ngừa vi phạm pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng giống như công chứng, chứng thực cũng là một thể chế pháp lý xuất hiện ở nước ta từ lâu tuy nhiên không được mọi người chú ý nhiều như cụm từ công chứng. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, Nxb Đà Nẵng năm 1997, chứng thực được định nghĩa “Nhận cho để làm bằng chứng là đúng sự thật. Chứng thực lời khai. Xác nhận là đúng.
Thực tiễn đã chứng thực điều đó” [9]. Còn theo nghĩa thông thường, “Chứng thực là làm chứng việc có thực”. Về mặt pháp lý, khái niệm chứng thực được chính thức quy định trong văn bản pháp luật tại Điều 2 Nghị định của Chính phủ ban hành số 75/2000/NĐ- CP ngày 08/12/2000 về công chứng, chứng thực. Theo đó “Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này”[3].
Khái niệm chứng thực tiếp tục được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, đó là: Điều 2 Nghị định chính phủ số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 quy định về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký; Hiện nay, khái niệm chứng thực được quy định tại Điều 2 Nghị định của Chính phủ ban hành số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 quy định về việc cấp bản sao từ số gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (có hiệu lực ngày 10/04/2015). Khái niệm chứng thực quy định tại Điều 2 Nghị định số 23/2015/NĐ- CP cụ thể như sau: Cấp bản sao từ sổ gốc là việc cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc, căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao. Bản sao từ sổ gốc có nội dung đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc. Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao đúng vơi bản chính.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chứng thực chữ ký là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực. Chứng thực hợp đồng, giao dịch là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự; ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch [4, Điều 2]. Khái niệm chứng thực cũng đã thể hiện được rõ bản chất của hoạt động chứng thực, được chia cụ thể thành 4 loại chứng thực đó là “Cấp bản sao từ sổ gốc” (hay còn hay gọi là chứng thực bản sao từ sổ gốc), “chứng thực bản sao”, “chứng thực chữ ký”, “chứng thực hợp đồng, giao dịch” chứ không còn quy định chung chung như khái niệm quy định trong Nghị Định số 75/2000/NĐ-CP. Trong khái niệm chứng thực quy định trong Nghị Định số 75/2000/NĐ-CP còn liệt kê một số các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực, quy định thẩm quyền chứng thực một cách chung, tuy nhiên theo quy định tại Điều 5 Nghị số 23/2015/NĐ-CP, thẩm quyền chứng thực đã được quy định một cách cụ thể, rõ ràng hơn đối với từng cơ quan, ngoài các cơ quan nhà nước ra thì còn quy định về thẩm quyền của công chứng viên tại Khoản 4 Điều 5 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP cụ thể như sau: “Công chứng viên có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực các việc quy định tại Điểm a Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều này, ký chứng thực và đóng dấu của Phòng công chứng, Văn phòng công chứng (sau đây gọi chung là tổ chức hành nghề công chứng)” [4].