Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Bệnh Care được coi là bệnh cổ điển và phổ biến ở chó trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Bệnh gây thiệt hại rất lớn về kinh tế và là mối lo ngại cho các nhà chăn nuôi và người nuôi chó. Ở Việt Nam trước đây, có thể nói các bệnh về chó chưa được quan tâm đúng mức, ngoại trừ ở các trại nuôi và huấn luyện chó nghiệp vụ.
Tuy nhiên ngày nay, các bệnh này ngày càng được quan tâm nhiều hơn do tầm ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội. Có rất nhiều loại chó quý, đắt tiền đã được nhập về Việt Nam; nhiều bệnh viện, bệnh xá thú y, phòng khám và các cơ sở chăm sóc chó mèo đặc biệt đã mọc lên trên cả nước. Nguyên nhân gây bệnh Virus gây bệnh Care là một siêu virus có cấu trúc rất tinh vi thuộc nhóm paramyxovirus. Bệnh gây hại cho chó ở tất cả mọi lứa tuổi.
Chó một tuổi trở xuống (2 - 6 tháng tuổi) dễ cảm thụ nhất, tỷ lệ mắc bệnh lên đến 70%. Chó đang bú mẹ ít mắc bệnh, nếu chó mẹ có miễn dịch thì chó mẹ có thể truyền miễn dịch thụ động cho chó con qua sữa đầu cho tới hơn 1 tháng, có khi tới 3 tháng. Con đường xâm nhập và cách lây lan 1. Con đường xâm nhập Virus CDV xâm nhập vào chó qua đường hô hấp, tiêu hóa và da.
Chó thường bài thải virus sau 7 ngày cảm nhiễm, virus lẫn vào các hạt bụi trong không khí và có thể tồn tại từ 6 - 22 ngày hoặc lâu hơn ngoài môi trường. Dịch chảy từ mắt, mũi trong cơn sốt đầu tiên của bệnh chứa rất nhiều virus. Mầm bệnh được thải qua dịch tiết mắt, mũi, nước bọt, phân, nước tiểu… 5 1. Cách lây lan Bệnh lây do tiếp xúc trực tiếp với con bệnh, con mắc thể ẩn tính, con mang trùng hoặc gián tiếp do thức ăn, nước uống bị nhiễm những chất bài tiết của con bệnh.
Sự lây nhiễm nhanh hay chậm phụ thuộc vào mật độ chó nuôi tại vùng đó và tỷ lệ chó được tiêm phòng. Đặc biệt, virus có thể xâm nhập vào cơ thể qua da qua các vết thương hở (Nguyễn Vĩnh Phước và cs. Mặc dù virus được bài tiết qua môi trường thông qua hầu hết các chất dịch cơ thể, bệnh này ít có khả năng lây lan qua nước tiểu. Chất bài tiết qua đường hô hấp từ chó bị ho có thể gây bệnh (Hồ Đình Chúc và cs.
Thời gian ủ bệnh của CDV có thể thay đổi từ 1 đến 4 tuần. Ban đầu, CDV lây nhiễm qua mô lympho đường hô hấp. Giai đoạn đầu virus nhân lên và phân bố khắp các mô bạch huyết của toàn thân, dẫn đến ức chế miễn dịch và sốt. Giai đoạn thứ hai xảy ra từ 6 - 9 ngày sau khi nhiễm bệnh, các tế bào nhu mô và biểu mô trên khắp cơ thể bị nhiễm trùng (Pope và cs.
Cơ chế gây bệnh Khi vào cơ thể vật chủ, đầu tiên, virus nhân lên trong mô lymphoid của hệ thống hô hấp, trong 24 giờ virus sẽ nhân lên ở đại thực bào và phát tán bởi hệ lymphocyte tới hạch amydal và các hạch bạch huyết. 2 - 4 ngày sau số lượng virus tăng lên nhanh chóng và xuất hiện trong máu, amydal, tuyến ức, lá lách, hạch bạch huyết, tủy xương, mô bạch huyết. Trong 4 - 6 ngày tiếp theo, lượng virus sẽ tăng lên nhiều lymphocyte ở lá lách, biểu mô dạ dày và ruột, niêm mạc ruột và tế bào Kuffer trong gan. Sự lan truyền của virus trong hệ bạch huyết gây ra cơn sốt đầu tiên, cùng lúc đó, virus tiếp tục phá hủy các lympho bào (bạch cầu lymphô bào, bạch cầu lympho T) dẫn đến suy giảm bạch cầu (Carter và cs.
Vào ngày 8 - 9 sau khi bị nhiễm, virus theo máu đến hệ thống thần kinh trung ương và chó có biểu hiện thần kinh hay không phụ thuộc vào hệ miền dịch dịch thể và miễn dịch tế bào cua vật chủ. 6 Ngày thứ 9 - 14 sau khi nhiễm trùng, hệ miễn dịch của chó bị suy giảm, sức đề kháng kém, virus sẽ lan tràn trong các mô kể cả da, tuyến nội - ngoại tiết, trong mô dạ dày, ruột, đường hô hấp, niệu quản. Virus tồn tại lâu dài khiến triệu chứng lâm sàng của bệnh trở nặng tới khi con bệnh chết. Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích 1.
Triệu chứng lâm sàng Canine distemper virus (CDV) là một bệnh rất dễ lây lan, chủ yếu liên quan đến chó non và các động vật ăn thịt nhạy cảm khác với tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao. Nhiễm trùng CDV được đặc trưng bởi tính chất dinh dưỡng lympho, thần kinh và biểu mô dẫn đến nhiễm trùng toàn thân với các dấu hiệu lâm sàng nghiêm trọng và tử vong (Alessia Peserico và cs. Biểu hiện bệnh và phụ thuộc vào độ tuổi của chó mắc bệnh, giống chó, tình trạng sức khỏe, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như độc lực của mầm bệnh (Greene và Appel, 1987). Thời gian ủ bệnh chó mệt mỏi, ủ rũ, ít vận động, sốt cao 40 - 41°C kéo dài 1 - 2 ngày, chó bỏ ăn, mắt đỏ, sau đó thân nhiệt trở về 38,5 - 39,5°C; chó tỉnh táo hơn.
3 - 4 ngày sau, xuất hiện đợt sốt thứ 2 kèm theo chảy nước mắt, nước mũi ban đầu loãng sau đặc dần, đôi khi kèm mủ xanh hoặc máu đen. Viêm niêm mạc miệng và hạch amidan. Chó ho do viêm thanh quản, viêm phế quản rồi viêm phổi, ban đầu ho khan, sau ho ướt dẫn đến khó thở, nhịp thở tăng rõ, suy nhược cơ thể, bỏ ăn, bạch cầu (lympho bào) giảm. Chó có biểu hiện nôn khan, nôn liên tục, mệt lả, háo nước.
Sau đó ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng có màu xám vàng lẫn bọt và niêm mạc dạ dày, ruột lầy nhày kèm lẫn máu màu cà phê hoặc màu hồng nhớt như máu cá, có mùi tanh khẳm điển hình, giai đoạn cuối phân sẽ gần như nước do virus CDV đã làm hỏng hệ tiêu hóa. Chó mất nước và mất chất điện giải nên gầy sút nhanh, mắt trũng, bụng hóp, đi lại không vững, nằm liệt một chỗ, nhiệt độ hạ, loạn nhịp tim. 7 Gương mũi khô và bong tróc, chảy nước mũi có màu xanh, thở khó, thở khò khè. Da dầy lên, nổi các nốt chấm đỏ to bằng hạt đỗ xanh, hạt gạo ở những vùng da mỏng, có thể loét, chảy mủ (gọi là các nốt sài) làm lông bết lại, hôi hám, vết thương nhanh chóng lành, không hình thành sẹo.
Màng kết mạc sung huyết, mắt có nhiều ghèn, bị đục, có thể kèm thêm viêm giác mạc mắt. Sau khi bị bệnh từ 10 đến 15 ngày, ở khoảng 80 - 90% số con bị bệnh, da ở gan bàn chân, mõm có hiện tượng tăng sinh dày lên và cứng lại, có khi bị nứt ra làm cho chó đi khập khiễng. Một số trường hợp chó chạy lung tung không định hướng, sủa rống lên, miệng chảy rãi rớt, ngã và dãy dụa, sau đó chó tỉnh táo lại nhưng rất mệt, chệch choạng, co giật và run rẩy liên tục. Chó bài tiết tiểu tiện và đại tiện không tự chủ.
Cuối cùng nằm bệt, loạn nhịp tim, thân nhiệt hạ dẫn đến liệt chân rồi chết. Từ khi ủ bệnh cho tới khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng khoảng 14 - 18 ngày, chó thường sốt cao từ 3 - 6 ngày sau khi nhiễm. Carre thể thần kinh khi chữa khỏi vẫn để lại di chứng (đi xiêu vẹo, mù và điếc, gầy còm. Bệnh tích Theo Appel và Gillespie (1972), bệnh tích đại thể có thể gặp bao gồm sừng hoá da ở mõm và gan bàn chân.
Tuỳ theo mức độ kế phát các loại vi khuẩn mà có thể thấy viêm phế quản phổi, viêm ruột hay mụn mủ ở da. Tế bào thượng bì đường hô hấp, tiết niệu, lưỡi, mắt, hạch và tuyến nước bọt có thể tìm thấy tiểu thể Lenst trong nguyên sinh chất tế bào. Chó mẹ có thai thời kỳ cuối mắc bệnh thì chó con sau khi sinh thường xuất hiện triệu chứng toàn thân, tổn thương đường hô hấp trên, viêm mũi, viêm phế quản, viêm kết mạc mắt (Carter và cs. Viêm kẽ phổi lan toả mà đặc trưng là sự tăng sinh và dày lên của biểu mô vách phế nang, lòng phế nang bao gồm các tế bào long vách phế nang và đại thực bào.
8 Xác chết thường gầy, mắt trũng sâu, niêm mạc mũi, miệng viêm cata đỏ mọng, sưng dầy lên, có nhiều chất nhớt. Phổi viêm, sung to, mầu đỏ thẫm, khí quản - phế quản có nhiều bọt, nhiều vùng phổi chắc đặc, hạch lympho sung và xuất huyết, trên vùng da mỏng có nốt sài, xoang bao tim, xoang ngực, xoang bụng tích nước và não sung huyết. Ruột viêm cata xuất huyết khiến thành niêm mạc bong ra lẫn máu với phân. Đây chính là nguyên nhân khiến phân có mùi đặc trưng (Nguyễn Thị Huyền và cs.
Các biến đổi bệnh tích đại thể của chó nghi mắc Care chủ yếu thể hiện ở hệ hô hấp (phổi, họng), ở hệ tiêu hóa (ruột non), hạch là nhiều nhất. Các bệnh tích đặc trưng của bệnh Care trên chó Phú Quốc như sau: Phổi có hiện tượng viêm xuất huyết ở chó C1, C3, C4, sưng hay xốp dai, có trường hợp phổi viêm dính với thành ngực. Bên cạnh đó, sung huyết mạch máu ruột và xuất huyết ruột non ở hầu hết các chó nghiên cứu. Hạch lympho sưng to, xuất huyết, mặt cắt của hạch lồi có dịch màu hồng chảy ra.
Các cơ quan còn lại, sung huyết, xuất huyết ở mạch máu, não, lách nhồi huyết, dạ dày sung huyết, gan hơi sưng, túi mật sưng to, thận sưng và màng thận khó bóc (Nguyễn Thị Lan và Khao Keonam, 2012). Chẩn đoán và phòng, trị bệnh 1. Chẩn đoán bệnh * Chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng Sốt cao, chán ăn hay bỏ ăn, chảy nước mũi, ho, khó thở, có gỉ mắt, nôn mửa và ỉa chảy nặng đối với chó con, xuất hiện các triệu chứng thần kinh trong thời kỳ cuối của bệnh, co giật cơ chân, cơ mắt, không đi được hoặc đi lại khó khăn, lắc đầu, ho ở chó trưởng thành, có các nốt sài ở bụng, bẹn, ngực, phía trong đùi. có các triệu chứng trên đường tiêu hóa hoặc triệu chứng thần kinh thì khả năng chó mắc bệnh Care là rất cao (Hồ Đình Chúc, 1993).
Chẩn đoán ban đầu chủ yếu dựa vào các dấu hiệu lâm sàng liên quan đến nhiễm trùng. Tuy nhiên, hình thức chẩn đoán này còn gặp nhiều khó 9 khăn vì cần tiến hành phân biệt với các bệnh khác có dấu hiệu hô hấp, thần kinh và/hoặc tiêu hóa, chẳng hạn như bệnh dại, giảm bạch cầu ở mèo, coronavirus, toxoplasmosis, vi khuẩn enteritides và parvovirus (Angelika K Loots và cs.