Chương 1 Bối cảnh ra đời Và VIệC GIA NHậP Hiệp định về đàn cá di cư của liên hợp quốc năm 1995 1. Một số khái niệm 1. Điều ước quốc tế Theo Luật Ký kết và gia nhập điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005, “Điều ước quốc tế” được hiểu như sau: “Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thoả thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thoả thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác” [15]. Các hiệp định nói chung và Hiệp định năm 1995 cũng là một trong những hình thức của điều ước quốc tế.
Đàn cá lưỡng cư Trong quan niệm dân gian cũng như trong văn bản pháp luật của nước ta, khái niệm “động vật lưỡng cư” hay ”loài lưỡng cư” là để chỉ sự thích nghi với môi trường sống của một loài động vật, như: ếch, cá sấu là loài vừa sống trên cạn, vừa sống dưới nước. Khái niệm ”đàn cá lưỡng cư” không đồng nghĩa với khái niệm ”động vật lưỡng cư”. Theo quy định của Hiệp định năm 1995 thì khái niệm ”đàn cá lưỡng cư” là để chỉ sự di chuyển, thay đổi nơi sinh sống của một đàn cá từ vùng biển này đến vùng biển khác. Ví dụ như cá ngừ đại dương lúc ở vùng biển Việt Nam lúc di chuyển ra vùng biển nước khác hoặc biển quốc tế.
Đàn cá di cư xa Khái niệm “đàn cá di cư xa” được nêu tại Điều 64 và Phụ lục, Công ước năm 1982. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bản chất của đàn cá di cư xa là những đàn cá sống trong vùng biển rộng lớn thuộc vùng đặc quyền kinh tế của một hoặc nhiều quốc gia và biển cả. Theo nhiều nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu của Bà Ê-vê-lin Me-Giơ, chuyên gia luật pháp của Ca-na-đa đã được nhiều chuyên gia trên thế giới công nhận, sử dụng làm tài liệu tại các Hội nghị quốc tế, mô tả đàn cá lưỡng cư và di cư xa được phân thành 9 nhóm khác nhau căn cứ theo đặc thù của chúng khi sống và di chuyển trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế – biển cả - vùng đặc quyền kinh tế (Xem phụ lục số 1.1), bao gồm: Hình 1, mô tả đàn cá lưỡng cư xuất hiện trong cả vùng đặc quyền kinh tế và biển cả. Một số đàn cá có thể xuất hiện chủ yếu ở một vùng đặc quyền kinh tế; Hình 2, mô tả đàn cá lưỡng cư xuất hiện trong cả vùng đặc quyền kinh tế và biển cả.
Một số đàn cá có thể xuất hiện chủ yếu ở biển cả; Hình 3, mô tả một số đàn cá có thể được phân bố đều ở cả vùng đặc quyền kinh tế và biển cả; Hình 4 và 5, mô tả đàn cá lưỡng cư gồm các loài phân bố rộng và các loài có vòng đời xuất hiện tại các vùng biển có thể xuất hiện ở biển cả và ở một hoặc nhiều vùng đặc quyền kinh tế; Hình 6 và 9, mô tả không phải là đàn cá lưỡng cư và di cư xa mà chỉ là loài chuyên di chuyển xuyên biên giới và đàn cá riêng biệt (chỉ ở một vùng duy nhất); Hình 7 và 8, mô tả loài cá di cư xa (cá ngừ và các loài thuộc họ cá ngừ). Những khoảng trống của Công ước năm 1982 1. Một số nét về Công ước năm 1982 Công ước năm 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 – sau 12 tháng kể từ ngày nước Guyana (nước thứ sáu mươi) phê chuẩn Công ước vào ngày 16/11/1993. Đến tháng 11/1996, Công ước đã có 108 nước phê chuẩn.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đây là một trong những công ước có quá trình chuẩn bị và đàm phán thông qua văn kiện lâu nhất (10 năm, từ năm 1973 đến năm 1982). Công ước này không chỉ được các quốc gia ven biển mà cả các quốc gia không có biển quan tâm. Công ước năm 1982 không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán. Chính điều này cắt nghĩa vì sao Công ước năm 1982 được các quốc gia viện dẫn và áp dụng một cách rộng rãi ngay cả khi còn chưa có hiệu lực.
Với 320 điều khoản, 17 phần và 9 phụ lục, hơn 1.000 quy phạm pháp luật, Công ước năm 1982 thực sự là một “bản hiến pháp” về biển của cộng đồng quốc tế là một trong những thành tựu có ý nghĩa nhất trong lĩnh vực quốc tế của thế kỷ XX. Lần đầu tiên trong lịch sử, Công ước năm 1982 đã đưa ra một tổng thể các quy định bao trùm tất cả các vùng biển và lĩnh vực sử dụng biển: chế độ pháp lý của tất cả các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; biển cả và vùng di sản chung của loài người; các quy định hàng hải và hàng không; sử dụng và quản lý tài nguyên biển, sinh vật và không sinh vật; bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninh trật tự trên biển, đấu tranh chống các tội phạm trên biển và hợp tác quốc tế về biển. Công ước đã thiết lập một trật tự pháp lý mới trên biển, tương đối công bằng và được thừa nhận rộng rãi. “ Công ước luật biển năm 1982 vừa là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng giúp các quốc gia trong việc quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của biển cả vừa là cơ sở pháp lý cho các quốc gia trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ biển cả” [25, tr.
Những khoảng trống của Công ước năm 1982 Công ước năm 1982, Điều 63 quy định về các đàn cá ở trong vùng đặc quyền kinh tế của hai hay nhiều quốc gia ven biển hoặc đồng thời ở trong vùng đặc quyền kinh tế và trong một khu vực nằm ngoài và tiếp liền với vùng đặc quyền kinh tế và Điều 64 quy định về các loài cá di cư xa. Theo đó, tại Mục 2, Phần VII, từ Điều 116 đến Điều 119 của Công ước năm 1982 có quy định về quyền đánh bắt ở biển cả (Điều 116); nghĩa vụ của các quốc gia có các biện 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp bảo tồn tài nguyên sinh vật của biển cả đối với các công dân của mình (Điều 117); sự hợp tác của các quốc gia trong việc bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật (Điều 118); việc bảo tồn tài nguyên sinh vật của biển cả (Điều 119). Các quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển đối với những nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế được quy định tại phần V của Công ước năm 1982. Theo khoản 1, Điều 61, Công ước năm 1982, quốc gia ven biển có quyền xác định sản lượng đánh bắt cho phép trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.
Những khoản còn lại của Điều 61 quy định rõ nghĩa vụ gắn liền với khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển, sự phụ thuộc lẫn nhau của các đàn cá và trách nhiệm của các quốc gia trong việc trao đổi số liệu liên quan đến đàn cá. Chỉ nghĩa vụ bảo tồn nguồn lợi quy định tại Điều 119, Công ước năm 1982 là phù hợp với những nghĩa vụ tương ứng tại Điều 61 về vùng đặc quyền kinh tế. Do vậy, cần thiết phải có những biện pháp quản lý đối với vùng đặc quyền kinh tế để áp dụng cho những vùng biển cả liền kề. Hay nói một cách khác, liên quan đến nghề cá, trong Công ước năm 1982 mới chỉ xác định trách nhiệm của các quốc gia đối với vùng đặc quyền kinh tế, còn đối với vùng biển cả cũng như cơ chế quản lý vùng này như thế nào chưa được đề cập cụ thể.
Trong khi đó, đặc điểm của nguồn lợi thuỷ sản nói chung và của nguồn lợi sinh vật biển nói riêng có thể di chuyển, có thể sống ở vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia này hoặc ở quốc gia khác, thậm chí di cư ra vùng biển cả. Để quản lý có hiệu quả thì vấn đề đặt ra là phải quản lý nguồn lợi thuỷ sản bao trùm hết quá trình vận động của nó. Như vậy, trong Công ước năm 1982 chưa giải quyết đầy đủ vấn đề về bảo tồn và quản lý các đàn cá di cư xa trong các khu vực nằm ngoài vùng thuộc quyền tài phán của quốc gia, mặc dù đã nhận thức được sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các đàn cá này với các đàn cá nằm trong vùng đặc quyền kinh tế. Đây là khoảng trống mà chưa có văn bản pháp luật quốc tế nào điều chỉnh nhằm quản lý có hiệu quả đối với những đàn cá lưỡng cư và di cư xa này.
Khoảng trống này cho thấy việc khai thác thuỷ sản không theo quy định theo cơ chế tiếp cận mở ở 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngoài khơi đã gây ra tình trạng khai thác thuỷ sản quá mức các nguồn lợi sinh vật biển nói trên, đồng thời gây ra những căng thẳng trong thời gian gần đây giữa các quốc gia có bờ biển và các quốc gia khai thác thủy sản viễn dương. Hiệp định năm 1995 tiến một bước quan trọng tới việc giải thích những cách thức hợp tác, tính tương thích và trách nhiệm như đã được quy định trong Công ước năm 1982. Nói cách khác, Hiệp định năm 1995 hướng dẫn việc thực hiện những quyền và nghĩa vụ được quy định trong Công ước năm 1982, bổ sung phần quản lý nguồn lợi thuỷ sản nối dài ra vùng biển cả. Hiệp định này được coi là một trong những văn bản pháp lý đa phương về nghề cá quan trọng nhất từ khi Công ước năm 1982 được ký kết.
Cơ sở, nền tảng sự phát triển của Hiệp định năm 1995 Hiệp định thực hiện các điều khoản Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 đối với bảo tồn và quản lý các đàn cá lưỡng cư và di cư xa được coi là văn bản mang tính ràng buộc pháp lý đa phương quan trọng nhất về bảo tồn và quản lý nghề cá trên biển cả kể từ khi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 được ký kết.