Mở đầu cho giai đoạn 1897 - 1918 là chính sách thực dân của Paul Duomer. Trong nhiệm kỳ của mình (1897 - 1902), Paul Duomer đưa Đông Dương bước vào một giai đoạn mới - giai đoạn khai thác triệt để lợi ích của thuộc địa để phục vụ lợi ích của Pháp. Triển khai cuộc khai thác này, Paul Duomer hoạch định một chương trình lớn, bao gồm 7 điểm, với mục tiêu xây dựng ở Đông Dương một bộ máy chính quyền mạnh, một nền tài chính mạnh và một chế độ thuế khoá được “cải cách”, và một hệ thống cơ sở hạ tầng mạnh nhằm tạo đà cho việc đẩy mạnh khai thác về kinh tế, phát triển các ngành kinh tế và thực hiện các biện pháp trấn áp những phong trào phản kháng của nhân dân Việt Nam. Thế cho nên, so với các viên toàn quyền trước và sau mình, Paul Duomer tỏ ra không quan tâm đến nguồn nhân lực cho chính sách thuộc địa của mình mà quan tâm đến người dân bản xứ, vì vậy Paul Duomer không quan tâm đến “chính sách với người bản xứ”.
Chương trình hành động đầy 9 tham vọng của ông ta đều nhằm một mục đích là thiết lập cho Pháp một chế độ cai trị mạnh ở Đông Dương và tận khai ở Đông Dương những gì mang lại lợi ích cho nước Pháp. Do đó, kết thúc nhiệm kỳ của mình, Paul Duomer đã để lại cho thực dân một chính phủ mạnh nhưng lại không có một chút quan tâm nào đến những phương diện xã hội, kể cả vấn đề y tế và giáo dục của người dân bản địa. Sau Paul Duomer, Paul Beau và những viên toàn quyền khác vẫn tiếp tục theo đuổi kế hoạch khai thác thuộc địa rộng lớn về kinh tế của Paul Duomer, tuy nhiên trong đường lối và chính sách thuộc địa lại không hoàn toàn thống nhất, mỗi viên toàn quyền thi hành một chính sách thuộc địa theo cách riêng của mình. Theo đó, năm 1902 Paul Beau sang thay thế Paul Duomer làm Toàn quyền Đông Dương.
Mặc dù được thừa hưởng một bộ máy chính quyền tỏ ra hiệu quả nhưng ông ta vẫn phải đối mặt với hậu quả chính trị từ việc thực thi chương trình khai thác thuộc địa cực quyền của Paul Duomer. Hậu quả đó chính là sự phản đối kịch liệt của những người dân bản xứ, được thể hiện rõ bằng một không khí uất hận đến mức đã làm những cuộc đấu tranh dữ dội nổ ra ngay sau đó. Trước tình thế đó, cùng với biến động của tình hình khu vực, Paul Beau buộc phải thay đổi chính sách thuộc địa, thay thế chính sách cai trị “đồng hoá” của Paul Duomer bằng chính sách “hợp tác với người bản xứ” – “cái mẹo để củng cố nền đô hộ thuộc địa” theo cách nói của nhà sử học Pháp Charles Fourniau. Và triển khai chính sách “hợp tác với người bản xứ”, Paul Beau đã thực hiện một số cải cách, trong đó chú ý nhiều đến hai lĩnh vực trước đó ít được chú ý tới là giáo dục và y tế.
Đến khi Antony Klobukowski nhận chức Toàn quyền Đông Dương (9/1908), tình hình chính trị ở Việt Nam và khu vực Bắc Kỳ đang nóng hổi. Phong trào cải cách dân chủ và đòi tự do dân chủ mang tính chất dân chủ tư 10 sản kết hợp với những phong trào yêu nước, kháng Pháp khác của nhân dân Việt Nam diễn ra mạnh mẽ. Hoảng sợ trước tình thế ấy, Antony Klobukowski đặt việc đàn áp và pháp luật lên hàng đầu, đồng nghĩa với việc ông ta lập lại chính sách đàn áp của Paul Duomer, dừng mọi cải cách dành cho dân bản xứ. Năm 1911, Albert Sarraut sang nhậm chức Toàn quyền thay cho Antony Klobukowski.
Albert Sarraut sang Đông Dương khi Chiến tranh thế giới thứ nhất đang chuẩn bị xảy ra. Đông Dương cũng như các thuộc địa khác được xem là chỗ dựa của Pháp trên nhiều mặt, kể cả nhân tài, vật lực, nhằm cung ứng cho Pháp những thứ cần thiết phục vụ chiến tranh; mặt khác một Đông Dương mạnh lúc bấy giờ sẽ giúp nước Pháp chống lại những đe doạ từ bên ngoài, mà rõ nhất có lẽ là sự xâm lược từ chính sách bành trướng của Nhật Bản. Đứng trước tình hình mới, Albert Sarraut quyết định quay trở lại với chính sách “hợp tác với người bản xứ”. Và với vị Toàn quyền này, chính sách “hợp tác với người bản xứ” đã trở thành một chính sách tuyên truyền hoàn chỉnh trên tinh thần “chuyển những hoạt động lâu dài của nhà nước Pháp sang cho người bản xứ; làm cho người bản xứ được hưởng những tiến bộ về vệ sinh và khoa học y tế; bảo vệ sở hữu của người bản xứ” [32, tr.
Điều đó có nghĩa là Albert Sarraut hướng tới một chính sách rộng rãi hơn với người bản xứ, bằng việc giảm bớt đặc quyền của các công dân Pháp trên phương diện tài sản và thông qua việc thực thi một số cải cách dân chủ về chính trị, cũng như tôn trọng thiết chế truyền thống, bảo đảm thực hiện những nguyên tắc của chế độ bảo hộ, cho phép người bản xứ được tham dự nhiều hơn vào những lĩnh vực trước đây chỉ được dành cho công dân Pháp. Điểm đáng lưu ý là xét trong bối cảnh những năm 20 của thế kỷ XX, chính sách “hợp tác với người bản xứ” đã được gán thêm nhiều ý nghĩa hơn là từ nguồn cội của nó. Giờ đây, chính sách này được coi như là một cứu cánh trong chính sách thuộc địa, để thông qua chính sách này đạt được 11 những mục tiêu lớn lao hơn về quân sự, chính trị. Theo đó, thực dân Pháp chủ trương bằng việc dựa vào dân bản địa, đẩy mạnh công cuộc khai phá thuộc địa, đồng thời dựa vào thuộc địa nhằm giảm bớt khó khăn ở trong nước.
Và rằng một Đông Dương mạnh có thể trợ giúp Pháp trong việc mở rộng thế lực ra bên ngoài, đối phó với nguy cơ bị lấn át bởi các cường quốc khác. Để đạt được mục tiêu trên, cốt lõi của chính sách này là tạo ra và dựa vào một tầng lớp “thượng lưu”, “ưu tú” nhằm thu hút các tầng lớp xã hội khác tham gia công cuộc phát triển nền kinh tế và “chinh phục trái tim, khối óc” người dân thuộc địa; phải để người bản xứ dẫn dắt người bản xứ, gắn kết tầng lớp thượng lưu với lợi ích của Pháp, tăng thêm tính đại diện của người bản xứ và tạo ra một nghị viện thuộc địa, nhằm tạo ra những cộng tác viên trung thực và trung thành. Như thế, “nó tạo ra cảm giác giả tạo về sự độc lập, tự chủ cho người bản xứ nói chung, tránh cho những nhà thực dân thái độ kỳ thị lộ liễu, có hại cho sự điều hành và uy tín của chế độ cai trị, và tránh nơi người bản xứ thái độ mặc cảm bị áp bức bởi người ngoại quốc” [44, tr. Và đây là lần đầu tiên, những khái niệm, những ngôn từ như “mở rộng sự bảo hộ của mình bằng sức mạnh vật chất và phẩm cách”, “một nền tư pháp công minh”, “phát triển giáo dục và bảo vệ sức khỏe”, “liên kết”, “hợp tác tự do”.
đã xuất hiện trong đường lối cai trị của Pháp ở Đông Dương nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Để thực thi chính sách “hợp tác với người bản xứ”, phương châm cải cách theo hướng “giải tập trung hóa”, “trung ương tản quyền” và thực hành “hợp tác” trên thực tế đã được triển khai. Theo đó, ở Bắc Kỳ các chức danh Tổng đốc, Tuần phủ được tái lập, Hội đồng hàng tỉnh của Phủ Công sứ cũng được lập ra. Lần đầu tiên, Phòng Tư vấn Bản xứ Bắc Kỳ được tổ chức vào năm 1907.
Đến thời Albert Sarraut, tiếp tục “phi tập trung hóa”, ông chủ trương chuyển giao bớt quyền hành cho chính quyền cấp xứ, cấp tỉnh, tạo ra 12 sự độc lập nhiều hơn cho chính quyền địa phương. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, đi đôi với thúc đẩy chính sách “hợp tác với người bản xứ”, thực dân Pháp tìm cách xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền ở toàn Liên bang Đông Dương nói chung và xứ Bắc Kỳ nói riêng, đẩy mạnh cải cách bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương. Ở Bắc Kỳ, thực dân Pháp tiếp tục hoàn thiện văn phòng của Phủ Thống sứ, các hội đồng kỹ thuật, hội đồng bảo hộ, phòng hỗn hợp thương mại và canh nông; đồng thời tiếp tục chủ trương “dân chủ hóa” bộ máy chính quyền, cho thiết lập Hội đồng Tư vấn Bản xứ với danh nghĩa có chức năng tư vấn về thu, chi ngân sách, dự kiến những khoản chi vào lợi ích xã hội trong phạm vi ngân sách cấp xứ và nói chung tư vấn cho chính quyền mọi vấn đề liên quan đến trật tự công cộng cũng như đến dân bản xứ. Trên tinh thần đó, ngày 4/5/1907 Hội đồng Tư vấn Bản xứ Bắc Kỳ được thành lập, nhưng đến tháng 12/1908 thì lại ra lệnh giải tán.
Đến ngày 19/3/1913 chính phủ Bảo hộ lại cho tái lập. Ở Bắc Kỳ, nhiều ngành kinh tế đã có biểu hiện của sự phát triển cả về quy mô lẫn những thay đổi về chất, tức là quá trình hiện đại hóa, tư bản hóa. Cơ cấu của nền kinh tế Bắc Kỳ tiếp tục thay đổi theo hướng của một nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa xâm nhập sâu rộng vào các ngành kinh tế, dẫn đến sự xuất hiện rõ nét bộ phận kinh tế hiện đại - kinh tế tư bản chủ nghĩa. Kết quả về kinh tế sẽ kéo theo một cách tự nhiên những biến đổi về kết cấu của xã hội Bắc Kỳ dưới tác động của những điều kiện ngoài kinh tế khác.
Sự chuyển biến này của nền kinh tế trước hết tác động làm thay đổi cơ cấu xã hội theo hướng hiện đại và tư bản chủ nghĩa. Dù vậy, những nhân tố của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vẫn chưa đủ mạnh để lấn át và cải biến nhanh chóng nền kinh tế bản địa. Để phục vụ cho chương trình khai thác thuộc địa về kinh tế, chính quyền thuộc địa đã tiến hành một số cải cách trên lĩnh vực văn hóa - xã hội. 13 Mục đích của nền giáo dục thuộc địa là duy trì vĩnh viễn ách thống trị của Pháp, nên tùy theo yêu cầu chính trị của từng giai đoạn mà chúng đưa ra những chủ trương cụ thể, một số yếu tố của nền y học phương Tây đã được đưa vào.
Đặc biệt, những hoạt động “sôi nổi” ở một số lĩnh vực văn hóa - xã hội Bắc Kỳ trong những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất có căn nguyên từ nhu cầu của cuộc khai thác thuộc địa được triển khai trên quy mô ngày càng lớn.