Tổng quan nghiên cứu

Thị trường lao động đô thị tại Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế ghi nhận sự xuất hiện của nhiều loại hình việc làm dịch vụ văn hóa phi chính thức. Sau 20 năm mở cửa kinh tế, nhu cầu giải trí và rèn luyện thể chất tinh thần của cư dân thành thị tăng trưởng rõ nét, thúc đẩy sự nở rộ của các không gian khiêu vũ cổ điển tại Hà Nội. Với diện tích tự nhiên 920,97 km² và mật độ dân số bình quân 3.515 người/km², cá biệt tại các quận trung tâm như Đống Đa đạt 37.631 người/km² và Hoàn Kiếm đạt 33.856 người/km², nhu cầu thụ hưởng văn hóa giải trí sau giờ lao động đã hình thành nên một thị trường dịch vụ đặc thù.

Theo số liệu thống kê của cơ quan quản lý văn hóa địa phương, thành phố Hà Nội ghi nhận khoảng 30 câu lạc bộ khiêu vũ cổ điển được cấp phép hoạt động. Mỗi cơ sở duy trì thường xuyên từ 15 đến 20 người dẫn nhảy, tạo nên một lực lượng lao động xã hội ước tính từ 450 đến 600 cá nhân hoạt động liên tục. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu cấp bách nảy sinh khi toàn bộ nhóm lao động này đang tồn tại bên lề hệ thống an sinh xã hội. Thực trạng cho thấy người dẫn khiêu vũ không được ký kết hợp đồng lao động, không được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và vị trí này hoàn toàn vắng bóng trong danh mục mã nghề nghiệp quốc gia do pháp luật quy định. Đi liền với khoảng trống pháp lý là những định kiến xã hội nặng nề, đánh đồng công việc nghệ thuật này với các hiện tượng tiêu cực.

Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Lê Anh Tuấn, dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Mai Thị Kim Thanh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện năm 2007, tập trung giải quyết mục tiêu làm sáng tỏ thực trạng việc làm, điều kiện lao động, tiền lương và nhận thức nghề nghiệp của người dẫn khiêu vũ trên địa bàn Thủ đô. Nghiên cứu xác định các nhân tố chi phối sự lựa chọn công việc và dự báo xu hướng vận động của loại hình lao động này. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu tạo việc làm mới cho 8 triệu lao động và duy trì tỷ lệ thất nghiệp đô thị dưới 5% trong giai đoạn 2006-2010 của Đảng và Nhà nước, đồng thời nâng cao chỉ số phát triển con người trong kỷ nguyên công nghiệp hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng phân tích dựa trên hệ thống lý thuyết xã hội học kinh tế và xã hội học lao động, lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Học thuyết Karl Marx về hàng hóa sức lao động, giá trị thặng dư và sự tha hóa lao động được vận dụng để luận giải quan hệ mua bán sức lao động dịch vụ trên thị trường, nơi người dẫn khiêu vũ phải đa dạng hóa vai trò từ lễ tân, kỹ thuật âm thanh đến huấn luyện viên ngoài giờ. Lý thuyết biến đổi xã hội của Fichter, Comte và Lenski được khai thác để giải thích hiện tượng lệch pha văn hóa khi nhu cầu giải trí tinh thần phát triển nhanh chóng nhưng nhận thức và thiết chế pháp lý chưa kịp thời thích ứng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết hành động xã hội của Max Weber nhằm phân tích bốn loại hình hành vi duy lý công cụ, duy lý giá trị, duy cảm và truyền thống trong quyết định dấn thân vào nghề. Mô hình cấu trúc chức năng AGIL của Talcott Parsons cùng lý thuyết vị thế và vai trò xã hội làm rõ cơ chế tương tác giữa ban chủ nhiệm câu lạc bộ và người lao động. Bốn khái niệm công cụ cốt lõi được định hình chặt chẽ bao gồm: việc làm theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Lao động, nghề nghiệp xã hội, người quản lý câu lạc bộ và kỹ thuật dẫn theo trong bộ môn khiêu vũ. Cách tiếp cận vốn xã hội, vốn con người và vốn văn hóa giúp định vị năng lực cạnh tranh của người lao động trong nền kinh tế thị trường chuyển đổi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa các phương pháp thu thập dữ liệu định lượng và định tính nhằm bảo đảm tính khách quan, đa chiều. Khảo sát bảng hỏi được triển khai với dung lượng mẫu 166 người dẫn khiêu vũ tại các địa điểm tiêu biểu như Câu lạc bộ Thời trang Hà Nội, Thần Vệ Nữ, Câu lạc bộ số 1 Tăng Bạt Hổ, Câu lạc bộ Phương Thi và Câu lạc bộ Chí Linh. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp hạn ngạch phân tầng theo độ tuổi, giới tính và thâm niên được áp dụng để phản ánh chính xác cấu trúc quần thể lao động đặc thù.

Dữ liệu định tính được củng cố thông qua 10 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp với những người đang hành nghề theo từng nhóm tình trạng hôn nhân, 4 cuộc phỏng vấn cán bộ văn hóa phường, 5 phỏng vấn chủ cơ sở vũ trường và 4 phỏng vấn công an phường phụ trách địa bàn. Ngoài ra, tác giả tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung bán cấu trúc giữa người dẫn nhảy và khách khiêu vũ, kết hợp phương pháp quan sát tham dự trực tiếp tại sàn tập. Lý do lựa chọn mô hình phân tích liên ngành xã hội học và kinh tế học nhằm khắc phục hạn chế của việc phân tích kinh tế thuần túy, giúp lượng hóa những khía cạnh tế nhị như tiền thù lao ngoài giờ, xung đột vai trò và áp lực tâm lý nghề nghiệp trong suốt tiến trình nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm trên 166 mẫu người dẫn khiêu vũ tại Hà Nội đã bộc lộ bức tranh nhân khẩu học và việc làm với nhiều chỉ số đáng chú ý:

Thứ nhất, cơ cấu giới tính có sự mất cân bằng nghiêm trọng khi nam giới chiếm tỷ lệ áp đảo 92,8%, trong khi nữ giới chỉ chiếm 7,2%. Về tình trạng hôn nhân, nhóm lao động chưa lập gia đình chiếm 63,3%, người đã có gia đình chiếm 33,7%, nhóm ly hôn chiếm 2,4% và góa bụa chiếm 0,6%.

Thứ hai, nguồn gốc cư trú của lực lượng lao động phản ánh dòng di cư nội địa rõ nét với 55,4% người dẫn nhảy là lao động ngoại tỉnh chuyển về Hà Nội sinh sống, trong khi cư dân có hộ khẩu thường trú tại Thủ đô chiếm 44,6%.

Thứ ba, trình độ học vấn của nhóm lao động này tương đối cao so với mặt bằng lao động giản đơn: 44,6% tốt nghiệp trung học phổ thông, 19,3% có trình độ trung cấp, 16,3% đã tốt nghiệp cao đẳng hoặc đại học, 17,5% trình độ trung học cơ sở và 2,3% thuộc các trình độ khác.

Thứ tư, tình trạng bấp bênh về tư cách pháp lý thể hiện ở việc 100% người được khảo sát không có hợp đồng lao động bằng văn bản và không được tham gia bảo hiểm y tế hay bảo hiểm xã hội thông qua cơ sở sử dụng lao động. Thu nhập chủ yếu dựa vào thỏa thuận thù lao theo giờ và các khoản tiền thưởng trực tiếp từ khách hàng.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu giới tính lệch hẳn về nam giới bắt nguồn từ đặc thù kỹ thuật của khiêu vũ cổ điển, đòi hỏi vai trò dẫn dắt chuẩn xác, kết hợp với nhu cầu tập luyện chiếm phần lớn ở nhóm khách hàng nữ trung niên. Thực trạng 55,4% lao động ngoại tỉnh và 63,3% thanh niên độc thân cho thấy đây là công việc thu hút nhóm lao động trẻ cần trang trải sinh kế nhanh chóng tại đô thị lớn. Đáng chú ý, tỷ lệ 16,3% người có bằng đại học và cao đẳng làm nghề phản ánh áp lực việc làm gay gắt trong xã hội, buộc trí thức trẻ phải thực hiện đa vai trò và chấp nhận làm việc trái ngành đào tạo để tích lũy tài chính.

Nếu dữ liệu được trực quan hóa qua biểu đồ cột ghép, người đọc sẽ thấy sự tương phản sâu sắc giữa trình độ học vấn cao với tính chất bấp bênh của công việc. Một bảng chéo đối sánh giữa tình trạng cư trú và hình thức trả lương sẽ chứng minh rõ ràng nhóm lao động nhập cư chịu nhiều thiệt thòi hơn về an toàn kinh tế và bảo trợ pháp lý. Sự vắng mặt của hợp đồng lao động biến mối quan hệ giữa chủ cơ sở và vũ công thành quan hệ thỏa thuận miệng dân sự thuần túy, vi phạm các chuẩn mực của Bộ luật Lao động. Điều này dẫn đến sự tha hóa lao động khi kỹ năng nghệ thuật bị biến thành công cụ kiếm sống bấp bênh, đồng thời đẩy người lao động vào thế yếu trước những rủi ro về sức khỏe và định kiến xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm chuẩn hóa và bảo vệ quyền lợi cho người dẫn khiêu vũ:

Thứ nhất, bổ sung mã định danh nghề nghiệp chính thức. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng tiêu chuẩn chức danh và ban hành mã nghề cho công việc hướng dẫn khiêu vũ trong hệ thống phân loại nghề nghiệp quốc gia trước quý 4 năm 2008, tạo tiền đề pháp lý cho việc quản lý lao động dịch vụ.

Thứ hai, thiết lập cơ chế thanh tra và bắt buộc giao kết hợp đồng. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chỉ đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Sở Văn hóa - Thông tin tiến hành kiểm tra định kỳ 6 tháng một lần đối với 100% cơ sở khiêu vũ trên địa bàn. Mục tiêu đến năm 2009 đạt tỷ lệ 90% người dẫn nhảy có hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc hợp đồng xác định thời hạn theo đúng quy định pháp luật.

Thứ ba, chuẩn hóa công tác đào tạo và sát hạch chuyên môn. Hiệp hội Vũ sư và Liên đoàn Khiêu vũ Thể thao thành phố triển khai các khóa bồi dưỡng kỹ thuật, y học thể thao và đạo đức nghề nghiệp định kỳ 12 tháng. Chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2010 có ít nhất 85% lao động dẫn khiêu vũ được cấp chứng chỉ hành nghề chuẩn hóa, nâng cao chất lượng dịch vụ văn hóa.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông thay đổi nhận thức cộng đồng. Các cơ quan báo chí, phát thanh và truyền hình Thủ đô phối hợp với các đoàn thể thanh niên tổ chức các tuyến bài tuyên truyền liên tục trong giai đoạn 2008-2010. Nội dung tập trung tôn vinh khiêu vũ như một môn thể thao nghệ thuật lành mạnh, giảm thiểu định kiến tiêu cực xã hội đối với người hành nghề xuống dưới 20%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Nhóm thứ nhất: Các nhà hoạch định chính sách thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cơ quan Quản lý Văn hóa. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng từ 166 mẫu khảo sát để xây dựng khung chính sách bảo hiểm và thiết lập mã nghề cho thị trường lao động phi chính thức tại các đô thị loại một.

Nhóm thứ hai: Giảng viên, chuyên gia và nghiên cứu sinh chuyên ngành Xã hội học, Kinh tế học lao động. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về cách vận dụng lý thuyết Marx, Weber và Parsons trong phân tích hiện tượng phân tầng xã hội, chuyển dịch cơ cấu việc làm và xã hội học đô thị.

Nhóm thứ ba: Ban chủ nhiệm các câu lạc bộ thể thao khiêu vũ và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giải trí. Báo cáo giúp chủ cơ sở hoàn thiện quy chế quản trị nhân sự, chuẩn hóa hợp đồng dịch vụ và xây dựng môi trường làm việc an toàn cho hơn 20 nhân sự tại mỗi đơn vị.

Nhóm thứ tư: Sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Công tác xã hội, Văn hóa học. Đề tài cung cấp khung phương pháp luận kết hợp phỏng vấn sâu 10 trường hợp và thảo luận nhóm tập trung, làm mẫu hình nghiên cứu cho các đề tài về nhóm lao động yếu thế.

Câu hỏi thường gặp

Nghề dẫn khiêu vũ tại Hà Nội có được pháp luật lao động thừa nhận chính thức hay chưa? Tại thời điểm nghiên cứu, nghề dẫn khiêu vũ chưa có mã nghề độc lập trong danh mục nghề nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, căn cứ Điều 13 Bộ luật Lao động, mọi hoạt động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cấm đều là việc làm hợp pháp và người dẫn nhảy có quyền được bảo vệ quyền lợi lao động đầy đủ.

Tại sao tỷ lệ nam giới làm nghề dẫn khiêu vũ lại chiếm tới 92,8%? Tỷ lệ này xuất phát từ đặc trưng kỹ thuật khiêu vũ cổ điển đòi hỏi người nam giữ vai trò dẫn dắt nhịp phách, đồng thời nhu cầu tập luyện tại các câu lạc bộ Hà Nội phần lớn đến từ khách hàng nữ trung niên. Phụ nữ làm nghề chỉ chiếm 7,2% và thường chuyển sang dạy nhảy tự do thay vì thuộc biên chế câu lạc bộ.

Thực trạng học vấn của người dẫn khiêu vũ phản ánh điều gì về thị trường lao động? Khảo sát chỉ ra 16,3% người dẫn nhảy có bằng đại học hoặc cao đẳng và 19,3% tốt nghiệp trung cấp. Điều này chứng minh áp lực khan hiếm việc làm tại đô thị buộc lao động có học vấn phải lựa chọn công việc dịch vụ trái ngành nhằm đáp ứng nhu cầu thu nhập trước mắt trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi.

Môi trường làm việc tại các câu lạc bộ ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe người dẫn nhảy? Người dẫn nhảy phải làm việc liên tục trong không gian kín với cường độ âm thanh lớn, ánh sáng nhân tạo và thời gian hoạt động kéo dài về đêm. Tình trạng này gây suy giảm thể lực, tổn thương hệ cơ xương khớp và căng thẳng thần kinh sau nhiều năm hành nghề mà không có chế độ bảo hộ lao động.

Làm thế nào để các câu lạc bộ bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người dẫn khiêu vũ? Ban chủ nhiệm các cơ sở cần chủ động chuyển đổi từ thỏa thuận miệng sang ký kết hợp đồng lao động vụ việc dưới 12 tháng theo quy định pháp lý, trích nộp bảo hiểm y tế tự nguyện và thiết lập quy chế chi trả thù lao minh bạch dựa trên năng lực chuyên môn của từng nhân viên.

Kết luận

  • Nghiên cứu làm sáng tỏ thực trạng việc làm phi chính thức của đội ngũ người dẫn khiêu vũ tại khoảng 30 câu lạc bộ ở Hà Nội, khẳng định đây là một lực lượng lao động xã hội có ích đáp ứng nhu cầu văn hóa đô thị.
  • Dữ liệu thực nghiệm trên 166 mẫu chỉ rõ sự chênh lệch lớn về giới tính với 92,8% nam giới, 55,4% lao động ngoại tỉnh và tỷ lệ 100% người hành nghề chưa được ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản.
  • Luận văn đóng góp hệ thống lý luận liên ngành vững chắc khi kết hợp học thuyết kinh tế chính trị Marx với lý thuyết hành động xã hội của Weber và mô hình cấu trúc chức năng của Parsons để giải bài toán việc làm dịch vụ.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước khẩn trương ban hành mã nghề chuẩn hóa trước năm 2009 và triển khai thanh tra an sinh xã hội toàn diện tại các cơ sở giải trí văn hóa.
  • Quý cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và các cơ sở đào tạo hãy khai thác nguồn dữ liệu thực nghiệm của luận văn để thúc đẩy hoàn thiện chính sách lao động, xóa bỏ định kiến và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động.