mở đầu bài thuyết trình bằng những con số, sự kiện thực tế đang diễn ra tại địa phương hoặc nêu một câu hỏi, một tình huống để thu hút sự chú ý của người nghe. - Triển khai nội dung thuyết trình. + Đại biểu cần trình bày khái quát bố cục chung (các luận điểm chính), sau đó đi sâu trình bày từng luận điểm. Khi triển khai các luận điểm, đại biểu cần bám sát mục đích thuyết trình, giải thích làm rõ vấn đề bằng các dẫn chứng, minh họa cụ thể; lựa chọn cách lập luận và diễn giải phù hợp với trình độ hiểu biết của số đông người nghe.
Các dẫn chứng thông tin phải có nguồn dẫn chứng cụ thể, bảo đảm độ tin cậy. Ví dụ: Không nên nói những câu như: “Tôi nghe nói ở thôn A xảy ra một số vụ việc tiêu cực”, mà cần phải rõ nguồn tin từ đâu và có dẫn chứng cụ thể, chính xác để thuyết phục người nghe, đồng thời thể hiện rõ trách nhiệm của đại biểu khi tiếp nhận và truyền tải thông tin. + Trong quá trình trình bày có thể phát sinh một số tình huống cản trở đến hiệu quả của hoạt động thuyết 13 trình, đại biểu Hội đồng nhân dân cần bình tĩnh xử lý tốt các tình huống đó. Ví dụ: Khi thực hiện hoạt động tiếp xúc cử tri để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghị quyết về phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương, người nghe tỏ thái độ không quan tâm, thiếu tập trung, gây ồn ào.
Nếu đó là do yếu tố chủ quan, đại biểu cần kịp thời điều chỉnh nội dung, hoặc phương pháp thuyết trình. Lúc này, đại biểu nên dừng lại một vài giây hoặc kể một câu chuyện hài hước, dí dỏm hay đặt một câu hỏi liên quan đến nội dung thuyết trình.; đồng thời có thể điều chỉnh âm lượng, ngữ điệu cho phù hợp để tạo sự chú ý của người nghe. - Kết thúc thuyết trình. + Tóm tắt ngắn gọn những nội dung chính đã trình bày, để người nghe dễ hiểu, dễ nhớ.
Trường hợp tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân, đại biểu cần động viên, khích lệ người nghe để họ tự giác thực hiện. Đặc biệt, trong hội nghị tiếp xúc cử tri đại biểu nên có những lời hứa sẽ phản ánh đầy đủ ý kiến, kiến nghị của cử tri tại kỳ họp, phiên họp hoặc chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết, đồng thời theo dõi, đôn đốc việc giải quyết và báo cáo kết quả với cử tri vào hội nghị tiếp xúc tiếp theo. + Cần kết thúc đúng giờ. Khi kết thúc, đại biểu nên nói lời cảm ơn.
b) Yêu cầu khi sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong thuyết trình - Đối với việc sử dụng ngôn ngữ: Ngôn ngữ phải bảo đảm tính chính xác, giản dị, trong sáng, không đa nghĩa 14 giúp diễn đạt rõ ràng được nội dung; bảo đảm lịch sự, phù hợp với đối tượng người nghe. - Đối với việc sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ. + Giọng nói (âm lượng, tốc độ, nhịp độ) cần ôn hòa, điềm tĩnh. Tùy theo tính chất, nội dung thông điệp cần truyền đạt mà sử dụng cấp độ, nhịp độ phù hợp nhằm nhấn mạnh những nội dung chính, thu hút sự tập trung chú ý của người nghe; âm lượng nên vừa đủ nghe (không to quá cũng không nhỏ quá); không nói lắp, sử dụng câu vô nghĩa, từ đệm không cần thiết.
+ Ngôn ngữ cơ thể (tư thế, tác phong, ánh mắt, nụ cười, cử chỉ, hành động.) nếu được sử dụng một cách hợp lý, đúng lúc có tác dụng nâng cao tính hấp dẫn, sinh động của thuyết trình, góp phần tạo dựng hình ảnh của người đại biểu dân cử trong mắt công chúng. Tư thế, tác phong cần chuẩn mực, nghiêm túc, tránh những tật xấu như đưa tay gãi đầu, xỏ tay vào túi quần, chỉ tay. Đại biểu cần quan tâm đến phản ứng của người nghe, duy trì sự giao tiếp bằng mắt để bao quát tạo sự tập trung và tiếp nhận sự phản hồi từ người nghe. Đại biểu nên lựa chọn trang phục phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, nội dung thuyết trình.
Đánh giá bài thuyết trình Sau thuyết trình, đại biểu cần đánh giá được ưu, nhược điểm và rút kinh nghiệm cho bản thân trong hoạt động thuyết trình. - Phương pháp đánh giá: Đại biểu có thể tự đánh giá hoặc đánh giá thông qua ý kiến nhận xét, phản hồi, góp ý của chủ tọa phiên họp, kỳ họp; của các đại biểu Hội đồng nhân dân và của cử tri. 15 - Nội dung đánh giá: Đại biểu cần đánh giá được những kết quả đạt được, hạn chế, thiếu sót trong khi thực hiện hoạt động thuyết trình, trong đó cần tập trung làm rõ những hạn chế về chất lượng nội dung, phương pháp thuyết trình và thái độ trách nhiệm, từ đó xác định biện pháp rèn luyện, khắc phục. Từ kết quả đánh giá đại biểu cần xác định rõ mục tiêu và không ngừng học tập, rèn luyện, phát triển kỹ năng thuyết trình đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của đại biểu.
Để thành công trong thuyết trình, mỗi đại biểu Hội đồng nhân dân phải tích cực học tập, rèn luyện, trong đó đặc biệt chú trọng ba yếu tố quyết định: Thứ nhất, làm chủ thái độ tích cực: được thể hiện ở tính trách nhiệm cao, sự tôn trọng và cầu thị trong thuyết trình. Thứ hai, phát triển kiến thức, làm giàu trí tuệ: Nắm chắc về trách nhiệm và quyền của đại biểu, nắm vững về chuyên môn, chuyên ngành và am hiểu thực tiễn. Thứ ba, hoàn thiện về phương pháp, kỹ năng thuyết trình: Thành thạo phương pháp tổng hợp, khái quát hóa. Biết phân tích, so sánh, chứng minh và nghệ thuật sử dụng ngôn từ sinh động, gây hiệu ứng tích cực.
16 II- KỸ NĂNG THẢO LUẬN CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 1. Những vấn đề chung về thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân 1. Khái niệm thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân Khoản 1, Điều 93 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019) quy định: Đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp Hội đồng nhân dân, tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân. Như vậy, tham gia thảo luận là trách nhiệm luật định của đại biểu Hội đồng nhân dân.
Có nhiều khái niệm khác nhau về thảo luận. Theo Từ điển tiếng Việt, “thảo luận là trao đổi ý kiến về một vấn đề, có phân tích lý lẽ”1; theo tài liệu khác thì “thảo luận là trao đổi, phân tích bằng lý lẽ để làm sáng tỏ một vấn đề”2. Từ đó có thể hiểu: Thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân là việc các đại biểu trao đổi ý kiến, phân tích bằng lý lẽ, làm sáng tỏ một vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Đại biểu có thể tham gia thảo luận trong các trường hợp sau: ______________ 1.
Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Sđd, tr. Tài liệu bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2011, tr. 17 - Thảo luận dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo được đưa ra xem xét tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân, phiên họp của Thường trực Hội đồng nhân dân; thảo luận tại tổ.
- Thảo luận báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri. - Thảo luận các báo cáo công tác sáu tháng và hằng năm của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự; báo cáo công tác nhiệm kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp; báo cáo chuyên đề của Ủy ban nhân dân. - Thảo luận về việc trả lời chất vấn: Trong trường hợp nhận được văn bản trả lời chất vấn của người bị chất vấn mà đại biểu không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền yêu cầu Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân đưa ra thảo luận tại kỳ họp, phiên họp. - Thảo luận, đóng góp ý kiến vào các văn bản khác của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu, Đoàn giám sát.
theo quy định của pháp luật hoặc khi có yêu cầu. Vai trò của thảo luận - Thảo luận giúp đại biểu Hội đồng nhân dân thể hiện ý kiến, quan điểm của mình về các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, qua đó khẳng định được bản lĩnh, uy tín và trí tuệ của người đại biểu dân cử. - Thảo luận phát huy được trí tuệ tập thể của tất cả các đại biểu Hội đồng nhân dân, tạo bầu không khí dân chủ, 18 từ đó có cơ sở làm sáng tỏ các nội dung được đem ra bàn bạc, xem xét, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng nghị quyết của Hội đồng nhân dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước ở địa phương. - Thảo luận là môi trường để đại biểu rèn luyện kỹ năng, nâng cao hiểu biết, bản lĩnh chính trị, từng bước đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ.
Đặc biệt, ở những kỳ họp Hội đồng nhân dân được phát thanh, truyền hình trực tiếp, thông qua ý kiến phát biểu thảo luận đại biểu khẳng định được năng lực, hình ảnh, vị thế của mình trước công chúng. Yêu cầu đối với hoạt động thảo luận của đại biểu Ngoài việc phải đáp ứng các yêu cầu chung như đối với hoạt động thuyết trình, thảo luận cần bảo đảm tuân thủ các yêu cầu sau: - Thảo luận phải trên tinh thần xây dựng, không vì động cơ cá nhân. Trong thảo luận, các đại biểu cần phát huy tinh thần trách nhiệm của đại biểu dân cử để đưa ra các ý kiến khách quan, công tâm, xuất phát từ lợi ích chung; tuyệt đối không được lợi dụng thảo luận cho động cơ cá nhân. - Trong thảo luận cần có bản lĩnh, lập trường vững vàng để bảo vệ được chính kiến, quan điểm cá nhân; theo đuổi đến cùng mục tiêu đề ra.
- Phải có kiến thức sâu, rộng, toàn diện về các lĩnh vực có liên quan đến nội dung thảo luận, từ đó có đủ khả năng lập luận, tranh luận làm sáng tỏ vấn đề đưa ra thảo luận; 19 bảo đảm thuyết phục, tạo sự ủng hộ, đồng thuận khi thông qua dự thảo nghị quyết, đề án, dự án. Kỹ năng thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân 2.