Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG DI CƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Người lao động di cư và nhu cầu của người lao động di cư 1. Di cư Theo Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM): “Di cư là sự di chuyển của một người hay một nhóm người, kể cả qua biên giới quốc tế hay trong một quốc gia. Là sự di chuyển dân số, bao gồm bất kể loại di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân; nó bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và những người di chuyển vì những mục đích khác, trong đó có đoàn tụ gia đình” [18, tr.
Mục 7, điều 1, Pháp lệnh số 06/2003/PL của của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Khóa 11, ngày 09 tháng 01 năm 2003 ghi rõ, di cư “là sự di chuyển dân số từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ địa phương này sang địa phương khác” [19, tr. Di dân theo nghĩa rộng là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong không gian và thời gian nhất định, kèm theo thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn; di dân theo nghĩa hẹp là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới, trong một khoảng thời gian nhất định [4]. Như vậy, đối với luận văn này, di cư được hiểu là sự di chuyển của người dân từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam với một khoảng thời gian nhất định. Người lao động di cư Luận văn này tập trung nghiên cứu công tác xã hội đối với người di cự lao động, được hiểu là những người dân từ 15-59 tuổi ở khu vực nông thôn di 13 chuyển tới khu vực thành thị trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà không phân biệt thời gian cư trú nhằm mục đích lao động, tìm kiếm việc làm để tạo ra thu nhập, và bản thân những người này hiện đang gặp một số vấn đề mà họ chưa tự giải quyết được như vấn đề về tâm lý, nơi ở, tìm kiếm việc làm, tiếp cận dịch vụ, tham gia các hoạt động xã hội, xung đột trong quan hệ lao động, v.
Các hình thức di cư Có nhiều cách phân loại các hình thức di cư như căn cứ vào phạm vi di cư thì có hình thức di cư trong nước và di cư quốc tế; Căn cứ vào thời gian di cư thì có di cư thời vụ, di cư ngắn hạn, di cư dài hạn; Căn cứ vào mục đích di cư thì gồm có hình thức di cư lao động, di cư học tập, di cư hôn nhân và đoàn tụ gia đình; Căn cứ vào luật pháp thì có hình thức di cư hợp pháp và di cư không hợp pháp. Tuy nhiên, đối với nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung tìm hiểu cụ thể về hình thức di cư trong nước, di cư thời vụ, di cư ngắn hạn, di cư dài hạn, và di cư lao động. Bởi lẽ, trong nghiên cứu này tác giả chỉ nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và chỉ tập trung vào nhóm đối tượng di cư lao động từ nông thôn ra thành thị đang gặp một số vấn đề mà tự họ chưa giải quyết được. Hơn nữa, đối với các hình thức di cư thời vụ, di cư ngắn hạn và di cư dài hạn cũng được tác giả làm rõ là vì có liên quan đến nhóm đối tượng nghiên cứu chính của nghiên cứu này và liên quan đến thời gian cư trú của lao động di cư như đã trình bày ở phần các khái niệm trên.
Di cư thời vụ Một người lao động di cư, hoặc hoạt động di cư việc làm, mà đặc điểm công việc của họ phụ thuộc vào điều kiện mùa vụ và chỉ được thực hiện trong một phần của năm [21, tr. Di cư ngắn hạn Là hình thức di chuyển đến một nơi mà không phải nơi mình cư trú thường xuyên trong khoảng thời gian ít nhất ba tháng nhưng chưa tới một 14 năm, trừ trường hợp di chuyển vì mục đích giải trí, nghỉ lễ, thăm họ hàng, bạn bè, đi công việc hoặc chữa bệnh [25, tr. Di cư dài hạn Là hình thức mà người di cư chuyển đến một nơi không phải là nơi cư trú thường của họ trong khoảng thời gian ít nhất một năm, do đó nơi đến trở thành nơi cư trú thường xuyên mới của họ [25, tr. Di cư lao động Sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc trong phạm vi quốc gia cư trú của họ, với mục đích làm việc [21, tr.
Như vậy, dưới góc độ CTXH thì người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam với mục đích lao động, tìm kiếm việc làm đang gặp một số vấn đề mà tự họ chưa thể giải quyết được thì CTXH sẽ hướng đến bao phủ họ thông qua các hoạt động hỗ trợ, trợ giúp bất kể họ là người di cư thời vụ hay là người di cư ngắn hạn, dài hạn. Nhu cầu của người lao động di cư Di cư đã trở thành một vấn đề phát triển, có ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng cả ở khu vực nông thôn và khu vực đô thị ở Việt Nam trong những năm trở lại đây. Việc đưa ra quyết định di cư là kết quả của một quá trình ra quyết định với sự tương tác của các yếu tố lực đẩy và lực hút. Như đã trình bày trong phần tổng quan về những tác động tích cực của quá trình di cư đối với người lao động di cư như đối với một bộ phận người lao động di cư có công việc làm tốt với mức thu nhập cao.
Do đó, điều kiện sống và chất lượng cuộc sống được nâng cao cho bản thân người lao động di cư và gia đình của họ thông qua số tiền kiếm được và tiền gửi về cho gia đình.Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực thì di cư cũng có những ảnh hưởng tiêu cực tới bản thân người lao động di cư, gia đình, cộng đồng, xã hội nơi đi và nơi đến. Do đó, người lao động di cư gặp khá nhiều khó khăn, trở ngại trong quá trình 15 di cư. Vì vậy, tương ứng với những khó khăn gặp phải đó thì người di cư cũng có những nhu cầu như được hỗ trợ thông tin về nhà ở, thông tin về việc làm, thông tin về các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, thông tin về các hoạt động xã hội tại nơi đến cũng như tại quê nhà của họ. Được hỗ trợ thông tin Người di cư từ nông thôn ra thành thị vì mục đích làm việc luôn có nhu cầu là được hỗ trợ về các thông tin liên quan đến nơi cư trú tại nơi họ sẽ đến như các thông tin về nhà ở, môi trường sống, văn hóa, lối sống, ngôn ngữ, sinh hoạt, giao tiếp… để giúp quá trình hòa nhập của họ tại nơi đến có thể dễ dàng hơn.
Bên cạnh đó, các thông tin về việc làm như nguồn thông tin về các trung tâm tư vấn, giới thiệu việc làm chính thống cũng rất quan trọng đối với người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị. Bởi lẽ, mục đích chính của những lao động di cư này là vì kinh tế cho bản thân và gia đình của họ ở quê nhà. Khi có những nguồn thông tin về việc làm, về các trung tâm tư vấn, giới thiệu việc làm thì họ sẽ có điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều trong quá trình tìm kiếm việc làm phù hợp và tránh được những ảnh hưởng tiêu cực không mong muốn như bị lừa đảo, lừa gạt sức lao động,.Chính vì thế, hoạt động hỗ trợ, cung cấp thông tin trước và trong quá trình di cư có ý nghĩa rất quan trọng đối với người dân nông thôn. Ngoài ra, để quá trình di cư của lao động từ nông thôn ra thành thị được an toàn thì các thông tin về kiến thức và kỹ năng đối mặt, đối phó với những thay đổi môi trường sống và môi trường làm việc ở nơi đến của họ cũng được họ quan tâm rất nhiều.
Có như vậy thì những lao động di cư từ nông thôn ra thành thị có thể tránh được những nguy cơ, cạm bẫy, tình huống có thể xảy ra, gặp phải trên con đường di cư và tại nơi cư trú mới mà họ sẽ đến. Ngoài những thông tin trên, bản thân người lao động di cư cũng có nhu cầu biết các thông tin về chính sách, pháp luật như đăng ký tạm trú, tạm vắng ở nơi đến như thế nào? Đăng ký ở đâu? Chi phí đăng ký? Và cần những loại 16 hồ sơ, giấy tờ gì để có thể đăng ký? Và nếu không đăng ký thì họ gặp khó khăn gì tại nơi đến? Hơn nữa, họ cũng có nhu cầu được đào tạo về chuyên môn nghề nghiệp hoặc ngoại ngữ, được trang bị một số kỹ năng sống để phòng ngừa và xử lý các tình huống bất ngờ xảy ra trong cuộc sống để họ có thể tự bảo vệ bản thân trước khi nhờ đến các cơ quan luật pháp. Tóm lại, người di cư nói chung và người lao động di cư vì mục đích kinh tế nói riêng rất cần những thông tin về mọi mặt để có thể thực hiện quá trình di cư an toàn. Đảm bảo môi trường sống an toàn, vệ sinh Tất cả người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị đều mong muốn khi đến ở nơi ở mới thì họ được sống trong một môi trường an toàn, đảm bảo những nhu cầu căn bản như nhà ở thoáng mát, sạch sẽ, cùng với đó là hệ thống điện, nước sạch và thức ăn hợp vệ sinh để có thể đảm bảo cho sức khỏe, có khả năng tái sản xuất sức lao động, tránh bị bệnh tật.
Theo như thuyết nhu cầu của Maslow thì đây là một trong những nhu cầu cơ bản nhất của mỗi con người trong xã hội. Tìm được việc làm với thu nhập ổn định Những người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị vì lý do kinh tế luôn mong muốn có được một công việc tốt và phù hợp với khả năng, đồng thời tạo ra nguồn thu nhập ổn định và an toàn. Đây là một trong những nhu cầu quan trọng nhất để đảm bảo thực hiện và đáp ứng được những nhu cầu khác.