CHƯƠNG 1: BẢO NINH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI 1. Những biến chuyển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới 1. Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân ta giành được chủ quyền sau hơn tám mươi năm bị thực dân Pháp đô hộ. Chưa kịp bắt tay vào xây dựng đất nước thì chúng ta đã phải tiến hành cuộc kháng chiến trường kì gian khổ chống Pháp kéo dài suốt chín năm.
Sau đó lại là cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai. Mãi tới ngày 30 tháng Tư năm 1975, cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm kéo dài suốt ba mươi năm mới thực sự chấm dứt. Tuy vậy từ năm 1978 đến năm 1979 chúng ta vẫn còn phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây – Nam và biên giới phía Bắc để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Biết bao xương máu đã đổ xuống, biết bao trí tuệ, sức người, sức của đã hóa thân cho một dải non sông hòa bình thống nhất.
Số phận nghiệt ngã nào đã biến mảnh đất Việt Nam hiền lành thành “Bãi chiến trường bốn nghìn năm gươm khua, ngựa hí quân reo” (Theo Nguyễn Thanh Sơn: Nỗi buồn chiến tranh đến từ đâu, http://www. Trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, con người buộc phải thích nghi với một cuộc sống bất thường. Văn hóa thời chiến hình thành. Nhãn quan giai cấp, dân tộc, lợi ích của cuộc chiến đấu trở thành chuẩn mực đo đếm các giá trị.
Nhân dân Việt Nam phải hi sinh hạnh phúc cá nhân vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Sau 1975 nhất là từ những năm 80 trở đi, dân chủ hóa là xu thế lớn của xã hội. Nó cũng trở thành xu hướng vận động bao trùm của nền văn học. Đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nhu cầu đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật đã tạo cơ sở cho xu hướng dân chủ hóa trong văn học được khơi dòng và phát triển mạnh mẽ.
Dân chủ hóa đã thấm sâu và được thể hiện ở nhiều cấp độ và bình diện của đời sống văn học, nhưng bao quát ta vẫn có thể nhận thấy một khuynh hướng vận động bao trùm chi phối một cách sâu sắc mọi mặt của nền văn học từ tư tưởng, cảm hứng chủ đạo đến các phương thức nghệ thuật, đó là xu hướng văn học vận động theo hướng dân chủ hóa, tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân. Luận văn thạc sĩ 12 Bùi Thị Hợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới 1. Những đổi mới của văn xuôi từ sau 1975 Quan sát sự vận động của văn học Việt Nam từ sau 1975, chúng ta dễ dàng nhận thấy lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật có sự biến đổi thật sự mạnh mẽ và sâu sắc. Nhìn trên những nét lớn có thể thấy tập trung ở những phương diện sau: mở rộng quan niệm về hiện thực đi liền với đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu.
Giai đoạn 1945 – 1975 với nguyên lý “văn học phản ánh hiện thực” và yêu cầu quán triệt lí luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học trở nên gắn bó với đời sống xã hội hơn, theo sát từng biến cố lịch sử, từng bước phát triển của phong trào cách mạng. Tính hiện thực được đồng nhất với quan niệm lí tưởng về hiện thực. Hiện thực được lựa chọn là hiện thực chính trị rộng lớn, là những đề tài lớn như công – nông – binh, là đời sống cách mạng ở những nơi mũi nhọn, là cuộc sống mới và con người mới. Từ khoảng đầu những năm 80, cuộc sống thời bình đã thực sự trở lại, con người hằng ngày phải đối diện với bao nhiêu vấn đề của thực tiễn, của đời thường, của các quan hệ thế sự, của đời sống riêng tư.
Các nhà văn có sự mẫn cảm với cuộc sống đã không thể bỏ qua cái hiện thực đời thường đó và họ đã nhìn ra nhiều vấn đề có ý nghĩa, đáng được quan tâm trong đó. Từ đề tài lịch sử dân tộc vốn là đề tài chủ đạo và chi phối mọi bình diện của hiện thực, văn học đã chuyển sự quan tâm chủ yếu sang thể tài thế sự và đời tư. Với sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực như thế, văn xuôi đã vượt qua tình trạng bị lệ thuộc vào đề tài, lệ thuộc vào một cách nhìn đã được định trước, mở ra khả năng phong phú, vô tận trong sự khám phá và thể hiện hiện tính muôn mặt, muôn vẻ của thực đời sống. Khi văn chương được giải phóng khỏi “chủ nghĩa đề tài” thì điều đó vừa là một thuận lợi, vừa là một thách thức với nhà văn.
Họ có thể viết về mọi điều, kể cả những điều trước kia cần phải kiêng kị, nhưng cái quan trọng lại là ở chỗ nhà văn có phát hiện được điều gì mới, muốn biểu đạt cái gì của riêng mình trong những cái quen thuộc hay xa lạ với người đọc. Bài tiểu luận Viết về chiến tranh của Nguyễn Minh Châu (năm 1978), bản “đề dẫn” của Nguyên Ngọc và bài Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật Việt Nam Luận văn thạc sĩ 13 Bùi Thị Hợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới giai đoạn vừa qua của Hoàng Ngọc Hiến (năm 1979) thực chất là sự dự báo những thay đổi trong quan niệm văn chương, trong đó có vấn đề quan niệm về hiện thực. Từ những truyện ngắn mang tính thể nghiệm của Nguyễn Minh Châu như Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Một lần đối chứng, v., đến các tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người của Nguyễn Khải, v.v, và hàng loạt tác phẩm ra đời năm 1986, đã xuất hiện một cách nhìn hiện thực đa dạng, nhiều chiều, thể hiện mối quan hệ tự do của nhà văn đối với hiện thực. Không phải ngẫu nhiên, người ta nói nhiều đến khái niệm “suy ngẫm”, “nghiền ngẫm” về hiện thực.
Hiện thực là cái chưa biết, không thể biết hết, hiện thực phức tạp, cần khám phá, tìm tòi. Nhà văn lựa chọn hiện thực nào không quan trọng bằng cách đánh giá của ông ta về hiện thực ấy. Văn xuôi thời kỳ đổi mới đã đem lại nhiều biến đổi trong nghệ thuật trần thuật. Văn xuôi từ bỏ sự áp đặt một quan điểm (quan điểm của cộng đồng) được cho là đúng đắn nhất.
Ngày nay, người viết có thể đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, chính kiến khác nhau. Để làm được điều đó, cách tốt nhất là chuyển dịch điểm nhìn vào nhiều nhân vật để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của mình và để cho các ý thức cùng có quyền phát ngôn, cùng đối thoại. Sự thay đổi vai kể, cách đưa truyện lồng trong truyện, sự đảo ngược và xen kẽ các tình tiết, sự việc không theo một trật tự thời gian duy nhất, tất cả những thủ pháp ấy đều nhằm tạo ra được hiệu quả nghệ thuật mới. Trong sự đa dạng về phương thức trần thuật, nhiều nhà văn, nhà báo, một người chứng kiến, quan sát kể lại câu chuyện về người khác hoặc kể về chính mình, Nguyễn Khải lại cách tân nghệ thuật trần thuật bằng cách tổ chức kiểu cấu trúc đối thoại có sự tham gia của nhiều ý thức độc lập qua hệ thống hình tượng cụ thể (Cha và con và., Khoảnh khắc đang sống, Gặp gỡ cuối năm).
Ở Cha và con và., tuy lập trường của tác giả vẫn chi phối nhân vật, nghĩa là nhân vật không được nói “tiếng cuối cùng” về mình, nhưng nhiều người đã nhận ra đây là cuộc “đối thoại giữa lí tưởng tôn giáo và chủ nghĩa xã hội” (Lại Nguyên Ân). Sự lựa chọn cách sống, quan điểm về đời sống giữa các nhân vật cha già quản hạt, ông thầy xuất, cha Hòe, cha Thư, v., ít nhiều cho thấy giá trị của kinh nghiệm cá nhân, tính Luận văn thạc sĩ 14 Bùi Thị Hợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới độc lập về tư tưởng của nhân vật. Gặp gỡ cuối năm chưa phải là phức điệu nhưng cuộc đối thoại quanh bàn tiệc tất niên của ngót chục con người, “bảo hoàng” có, cấp tiến có, cộng sản có, chống cộng sản có, thiền có, khoa học có, phần nào đã mang tính đa thanh và người dẫn chuyện đã không còn đứng cao hơn nhân vật nữa. Sau này với Nguyễn Trí Huân (Chim én bay), Ma Văn Kháng (Đám cưới không có giấy giá thú), Nguyễn Minh Châu (Chiếc thuyền ngoài xa, Phiên chợ Giát), Nguyễn Khải (Một cõi nhân gian bé tí, Cái thời lãng mạn, Nhóm bạn thời kháng chiến), Phạm Thị Hoài (Thiên sứ, Mê lộ, Từ Man Nương đến A.K và những tiểu luận), v., ý thức đối thoại được triển khai phổ biến theo lối trần thuật từ điểm nhìn của nhân vật.
Trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, thái độ đầy cam chịu của người đàn bà thuyền chài, hay thói vũ phu hung bạo của chồng bà ta được tác giả luân phiên đánh giá qua các nhân vật: đứa con trai, đứa con gái, nhà nhiếp ảnh, viên thẩm phán. Mỗi người đều từ niềm tin riêng mà phán xét.Thật thú vị là tất cả họ đều nông nổi hơn người đàn bà thất học, thô kệch ấy vì chỉ bà biết rõ rằng cuộc sống sông nước không thể thiếu bàn tay chèo chống của người đàn ông và đàn bà sống vì con cái chứ không vì mình. Trong Ăn mày dĩ vãng(Chu Lai), thực trạng thời hậu chiến với các vấn đề đạo đức và niềm tin được trần thuật qua cách nhìn của Hai Hùng, Ba Sương, Tám Tính, Ba Thành, Tường, Tuấn và qua những lời bình luận trữ tình ngoại đề của nhân vật người dẫn chuyện, tạo thành một ấn tượng phức hợp buồn vui, căm phẫn, tin yêu. Mỗi điểm nhìn trần thuật gắn liền với một sự trải nghiệm và như vậy, hiện thực được đánh giá theo nhiều cách.
Người đọc tự nhiên bị lôi cuốn vào “trò chơi” của nhà văn vì anh ta được giành quyền quyết định sau cùng đối với cái hiện thực mà nhà văn trình bày. Trong số các nhà văn đổi mới, có lẽ Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp là hai tác giả tạo ra những điểm nhìn trần thuật thật sự khác biệt.