Văn Xuôi Tự Sự Của Bảo Ninh Trong Bối Cảnh Văn Học Việt Nam Thời Kỳ Đổi Mới

Khám phá luận văn thạc sĩ về văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ mới, phân tích sâu sắc và toàn diện.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

137
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

0.2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

0.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

0.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN

1. CHƯƠNG 1: BẢO NINH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI

1.1. Những biến chuyển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới

1.2. Hoàn cảnh lịch sử - xã hội

1.3. Những đổi mới của văn xuôi từ sau 1975

1.4. Những khuynh hướng mới của văn xuôi

1.4.1. Khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử kiểu mới

1.4.2. Khuynh hướng nhận thức lại hiện thực

1.4.3. Khuynh hướng triết luận

1.4.4. Khuynh hướng thực huyền ảo

1.5. Bảo Ninh và văn học Việt Nam đương đại

1.6. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương

1.7. Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh

1.8. Những truyện ngắn đặc sắc

2. CHƯƠNG 2: SÁNG TÁC CỦA BẢO NINH – MỘT CÁI NHÌN MỚI VỀ HIỆN THỰC

2.1. Nỗi ám ảnh quá khứ trong tác phẩm của Bảo Ninh

2.1.1. Kí ức về chiến tranh

2.1.2. Khúc ca bi tráng về một thế hệ người Việt Nam anh hùng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước

2.1.3. Chiến tranh khốc liệt, tàn bạo và hủy diệt

2.1.4. Hiện thực bất cập thời hậu chiến

2.1.5. Kí ức về Hà Nội bình yên và những biến động lịch sử

2.2. Thế giới nhân vật trong sáng tác của Bảo Ninh

2.2.1. Hình tượng người lính khiếm khuyết

2.2.2. Hình tượng người phụ nữ

2.2.3. Hình tượng người trí thức, người nghệ sĩ

2.2.4. Những suy tư mới mẻ về hiện thực

2.2.5. Chiến tranh được nhìn từ góc độ nỗi buồn

2.2.6. Số phận của con người trong lịch sử

2.2.7. Ước mơ về hòa bình, hòa giải dân tộc

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐỔI MỚI NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC TỰ SỰ CỦA BẢO NINH

3.1. Đổi mới về kết cấu

3.1.1. Khái niệm kết cấu

3.1.2. Kết cấu dòng ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh và những truyện ngắn đặc sắc

3.2. Đổi mới về giọng điệu

3.2.1. Giọng điệu trần thuật

3.2.2. Giọng ngậm ngùi buồn thương

3.2.3. Giọng mỉa mai chua xót

3.2.4. Giọng tra vấn

3.3. Đổi mới về phân tích tâm lý trong Nỗi buồn chiến tranh và một số truyện ngắn đặc sắc

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Văn Xuôi Tự Sự Của Bảo Ninh

Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh là một phần quan trọng trong bối cảnh văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới. Tác phẩm của ông không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện những nỗi đau, nỗi buồn của con người trong thời kỳ chiến tranh và hậu chiến. Nỗi buồn chiến tranh là tác phẩm tiêu biểu, mang đến cái nhìn sâu sắc về tâm lý con người và những biến động của xã hội. Bảo Ninh đã khéo léo kết hợp giữa nghệ thuật và hiện thực, tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử Của Văn Học Việt Nam Thời Kỳ Đổi Mới

Thời kỳ Đổi mới bắt đầu từ năm 1986, đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của văn học Việt Nam. Các nhà văn, trong đó có Bảo Ninh, đã tìm kiếm những cách tân mới trong sáng tác, phản ánh những thay đổi trong xã hội và tâm lý con người. Văn học không còn chỉ là công cụ tuyên truyền mà trở thành phương tiện thể hiện cái tôi và những trăn trở của con người.

1.2. Đặc Điểm Nghệ Thuật Trong Sáng Tác Của Bảo Ninh

Sáng tác của Bảo Ninh nổi bật với phong cách viết cô đọng, súc tích. Ông sử dụng nhiều hình thức nghệ thuật như dòng ý thức, giọng điệu trần thuật đa dạng để thể hiện nỗi buồn và ký ức về chiến tranh. Những nhân vật trong tác phẩm của ông thường mang nỗi ám ảnh về quá khứ, thể hiện sự phức tạp trong tâm lý con người.

II. Những Thách Thức Trong Văn Xuôi Tự Sự Của Bảo Ninh

Trong quá trình sáng tác, Bảo Ninh đã phải đối mặt với nhiều thách thức. Những vấn đề như sự chênh lệch giữa hiện thực và lý tưởng, giữa ký ức và hiện tại đã tạo ra những áp lực lớn cho ông. Tuy nhiên, chính những thách thức này đã giúp ông phát triển phong cách viết độc đáo và sâu sắc hơn.

2.1. Sự Chênh Lệch Giữa Hiện Thực Và Lý Tưởng

Nhiều tác phẩm của Bảo Ninh phản ánh sự chênh lệch giữa hiện thực khắc nghiệt và lý tưởng cao đẹp. Ông đã khắc họa rõ nét những nỗi đau, sự mất mát của con người trong chiến tranh, từ đó tạo ra những tác phẩm mang tính nhân văn sâu sắc.

2.2. Áp Lực Từ Ký Ức Chiến Tranh

Ký ức về chiến tranh là một chủ đề lớn trong sáng tác của Bảo Ninh. Ông đã phải đối mặt với áp lực từ những ký ức đau thương, từ đó tạo ra những tác phẩm mang tính triết lý và sâu sắc. Những ký ức này không chỉ là nỗi buồn mà còn là động lực để ông sáng tạo.

III. Phương Pháp Sáng Tác Của Bảo Ninh Trong Văn Xuôi Tự Sự

Phương pháp sáng tác của Bảo Ninh rất đa dạng và phong phú. Ông thường sử dụng các kỹ thuật như dòng ý thức, giọng điệu trần thuật và phân tích tâm lý để thể hiện những cảm xúc sâu sắc của nhân vật. Điều này giúp tác phẩm của ông trở nên sống động và gần gũi với người đọc.

3.1. Kỹ Thuật Dòng Ý Thức Trong Tác Phẩm

Kỹ thuật dòng ý thức được Bảo Ninh sử dụng để thể hiện những suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật một cách chân thực nhất. Điều này giúp người đọc hiểu rõ hơn về tâm lý và nỗi đau của nhân vật, từ đó tạo ra sự đồng cảm mạnh mẽ.

3.2. Giọng Điệu Trần Thuật Đặc Sắc

Giọng điệu trần thuật của Bảo Ninh rất đa dạng, từ trầm buồn đến châm biếm. Ông khéo léo sử dụng giọng điệu để thể hiện những cảm xúc phức tạp của nhân vật, tạo nên những tác phẩm có chiều sâu và ý nghĩa.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Văn Xuôi Tự Sự Bảo Ninh

Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn mang lại nhiều bài học cho xã hội. Những tác phẩm của ông giúp người đọc hiểu rõ hơn về nỗi đau của chiến tranh, từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc sống và con người.

4.1. Giá Trị Nhân Văn Trong Tác Phẩm

Tác phẩm của Bảo Ninh mang giá trị nhân văn sâu sắc, phản ánh nỗi đau và khát vọng hòa bình của con người. Những thông điệp này vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện đại.

4.2. Tác Động Đến Độc Giả

Văn xuôi của Bảo Ninh đã tạo ra những tác động mạnh mẽ đến độc giả, giúp họ nhận thức rõ hơn về quá khứ và hiện tại. Những câu chuyện của ông không chỉ là những trang viết mà còn là những bài học quý giá về cuộc sống.

V. Kết Luận Về Văn Xuôi Tự Sự Của Bảo Ninh

Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh đã để lại dấu ấn sâu sắc trong văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới. Ông không chỉ là một nhà văn tài năng mà còn là một người có tầm nhìn sâu sắc về con người và xã hội. Những tác phẩm của ông sẽ mãi là nguồn cảm hứng cho các thế hệ sau này.

5.1. Tương Lai Của Văn Xuôi Tự Sự

Với những đóng góp của mình, Bảo Ninh đã mở ra một hướng đi mới cho văn xuôi tự sự Việt Nam. Tương lai của thể loại này sẽ tiếp tục phát triển và đổi mới, phản ánh những biến động của xã hội và tâm lý con người.

5.2. Di Sản Văn Học Của Bảo Ninh

Di sản văn học của Bảo Ninh không chỉ là những tác phẩm nổi tiếng mà còn là những giá trị nhân văn sâu sắc. Ông đã góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam, để lại nhiều bài học quý giá cho các thế hệ sau.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh văn xuôi tự sự của bảo ninh trong bối cảnh văn xuôi việt nam thời kỳ mới

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: BẢO NINH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI 1. Những biến chuyển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới 1. Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân ta giành được chủ quyền sau hơn tám mươi năm bị thực dân Pháp đô hộ. Chưa kịp bắt tay vào xây dựng đất nước thì chúng ta đã phải tiến hành cuộc kháng chiến trường kì gian khổ chống Pháp kéo dài suốt chín năm.

Sau đó lại là cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai. Mãi tới ngày 30 tháng Tư năm 1975, cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm kéo dài suốt ba mươi năm mới thực sự chấm dứt. Tuy vậy từ năm 1978 đến năm 1979 chúng ta vẫn còn phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây – Nam và biên giới phía Bắc để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Biết bao xương máu đã đổ xuống, biết bao trí tuệ, sức người, sức của đã hóa thân cho một dải non sông hòa bình thống nhất.

Số phận nghiệt ngã nào đã biến mảnh đất Việt Nam hiền lành thành “Bãi chiến trường bốn nghìn năm gươm khua, ngựa hí quân reo” (Theo Nguyễn Thanh Sơn: Nỗi buồn chiến tranh đến từ đâu, http://www. Trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, con người buộc phải thích nghi với một cuộc sống bất thường. Văn hóa thời chiến hình thành. Nhãn quan giai cấp, dân tộc, lợi ích của cuộc chiến đấu trở thành chuẩn mực đo đếm các giá trị.

Nhân dân Việt Nam phải hi sinh hạnh phúc cá nhân vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Sau 1975 nhất là từ những năm 80 trở đi, dân chủ hóa là xu thế lớn của xã hội. Nó cũng trở thành xu hướng vận động bao trùm của nền văn học. Đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nhu cầu đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật đã tạo cơ sở cho xu hướng dân chủ hóa trong văn học được khơi dòng và phát triển mạnh mẽ.

Dân chủ hóa đã thấm sâu và được thể hiện ở nhiều cấp độ và bình diện của đời sống văn học, nhưng bao quát ta vẫn có thể nhận thấy một khuynh hướng vận động bao trùm chi phối một cách sâu sắc mọi mặt của nền văn học từ tư tưởng, cảm hứng chủ đạo đến các phương thức nghệ thuật, đó là xu hướng văn học vận động theo hướng dân chủ hóa, tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân. Luận văn thạc sĩ 12 Bùi Thị Hợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới 1. Những đổi mới của văn xuôi từ sau 1975 Quan sát sự vận động của văn học Việt Nam từ sau 1975, chúng ta dễ dàng nhận thấy lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật có sự biến đổi thật sự mạnh mẽ và sâu sắc. Nhìn trên những nét lớn có thể thấy tập trung ở những phương diện sau: mở rộng quan niệm về hiện thực đi liền với đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu.

Giai đoạn 1945 – 1975 với nguyên lý “văn học phản ánh hiện thực” và yêu cầu quán triệt lí luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học trở nên gắn bó với đời sống xã hội hơn, theo sát từng biến cố lịch sử, từng bước phát triển của phong trào cách mạng. Tính hiện thực được đồng nhất với quan niệm lí tưởng về hiện thực. Hiện thực được lựa chọn là hiện thực chính trị rộng lớn, là những đề tài lớn như công – nông – binh, là đời sống cách mạng ở những nơi mũi nhọn, là cuộc sống mới và con người mới. Từ khoảng đầu những năm 80, cuộc sống thời bình đã thực sự trở lại, con người hằng ngày phải đối diện với bao nhiêu vấn đề của thực tiễn, của đời thường, của các quan hệ thế sự, của đời sống riêng tư.

Các nhà văn có sự mẫn cảm với cuộc sống đã không thể bỏ qua cái hiện thực đời thường đó và họ đã nhìn ra nhiều vấn đề có ý nghĩa, đáng được quan tâm trong đó. Từ đề tài lịch sử dân tộc vốn là đề tài chủ đạo và chi phối mọi bình diện của hiện thực, văn học đã chuyển sự quan tâm chủ yếu sang thể tài thế sự và đời tư. Với sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực như thế, văn xuôi đã vượt qua tình trạng bị lệ thuộc vào đề tài, lệ thuộc vào một cách nhìn đã được định trước, mở ra khả năng phong phú, vô tận trong sự khám phá và thể hiện hiện tính muôn mặt, muôn vẻ của thực đời sống. Khi văn chương được giải phóng khỏi “chủ nghĩa đề tài” thì điều đó vừa là một thuận lợi, vừa là một thách thức với nhà văn.

Họ có thể viết về mọi điều, kể cả những điều trước kia cần phải kiêng kị, nhưng cái quan trọng lại là ở chỗ nhà văn có phát hiện được điều gì mới, muốn biểu đạt cái gì của riêng mình trong những cái quen thuộc hay xa lạ với người đọc. Bài tiểu luận Viết về chiến tranh của Nguyễn Minh Châu (năm 1978), bản “đề dẫn” của Nguyên Ngọc và bài Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật Việt Nam Luận văn thạc sĩ 13 Bùi Thị Hợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới giai đoạn vừa qua của Hoàng Ngọc Hiến (năm 1979) thực chất là sự dự báo những thay đổi trong quan niệm văn chương, trong đó có vấn đề quan niệm về hiện thực. Từ những truyện ngắn mang tính thể nghiệm của Nguyễn Minh Châu như Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Một lần đối chứng, v., đến các tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người của Nguyễn Khải, v.v, và hàng loạt tác phẩm ra đời năm 1986, đã xuất hiện một cách nhìn hiện thực đa dạng, nhiều chiều, thể hiện mối quan hệ tự do của nhà văn đối với hiện thực. Không phải ngẫu nhiên, người ta nói nhiều đến khái niệm “suy ngẫm”, “nghiền ngẫm” về hiện thực.

Hiện thực là cái chưa biết, không thể biết hết, hiện thực phức tạp, cần khám phá, tìm tòi. Nhà văn lựa chọn hiện thực nào không quan trọng bằng cách đánh giá của ông ta về hiện thực ấy. Văn xuôi thời kỳ đổi mới đã đem lại nhiều biến đổi trong nghệ thuật trần thuật. Văn xuôi từ bỏ sự áp đặt một quan điểm (quan điểm của cộng đồng) được cho là đúng đắn nhất.

Ngày nay, người viết có thể đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, chính kiến khác nhau. Để làm được điều đó, cách tốt nhất là chuyển dịch điểm nhìn vào nhiều nhân vật để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của mình và để cho các ý thức cùng có quyền phát ngôn, cùng đối thoại. Sự thay đổi vai kể, cách đưa truyện lồng trong truyện, sự đảo ngược và xen kẽ các tình tiết, sự việc không theo một trật tự thời gian duy nhất, tất cả những thủ pháp ấy đều nhằm tạo ra được hiệu quả nghệ thuật mới. Trong sự đa dạng về phương thức trần thuật, nhiều nhà văn, nhà báo, một người chứng kiến, quan sát kể lại câu chuyện về người khác hoặc kể về chính mình, Nguyễn Khải lại cách tân nghệ thuật trần thuật bằng cách tổ chức kiểu cấu trúc đối thoại có sự tham gia của nhiều ý thức độc lập qua hệ thống hình tượng cụ thể (Cha và con và., Khoảnh khắc đang sống, Gặp gỡ cuối năm).

Ở Cha và con và., tuy lập trường của tác giả vẫn chi phối nhân vật, nghĩa là nhân vật không được nói “tiếng cuối cùng” về mình, nhưng nhiều người đã nhận ra đây là cuộc “đối thoại giữa lí tưởng tôn giáo và chủ nghĩa xã hội” (Lại Nguyên Ân). Sự lựa chọn cách sống, quan điểm về đời sống giữa các nhân vật cha già quản hạt, ông thầy xuất, cha Hòe, cha Thư, v., ít nhiều cho thấy giá trị của kinh nghiệm cá nhân, tính Luận văn thạc sĩ 14 Bùi Thị Hợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới độc lập về tư tưởng của nhân vật. Gặp gỡ cuối năm chưa phải là phức điệu nhưng cuộc đối thoại quanh bàn tiệc tất niên của ngót chục con người, “bảo hoàng” có, cấp tiến có, cộng sản có, chống cộng sản có, thiền có, khoa học có, phần nào đã mang tính đa thanh và người dẫn chuyện đã không còn đứng cao hơn nhân vật nữa. Sau này với Nguyễn Trí Huân (Chim én bay), Ma Văn Kháng (Đám cưới không có giấy giá thú), Nguyễn Minh Châu (Chiếc thuyền ngoài xa, Phiên chợ Giát), Nguyễn Khải (Một cõi nhân gian bé tí, Cái thời lãng mạn, Nhóm bạn thời kháng chiến), Phạm Thị Hoài (Thiên sứ, Mê lộ, Từ Man Nương đến A.K và những tiểu luận), v., ý thức đối thoại được triển khai phổ biến theo lối trần thuật từ điểm nhìn của nhân vật.

Trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, thái độ đầy cam chịu của người đàn bà thuyền chài, hay thói vũ phu hung bạo của chồng bà ta được tác giả luân phiên đánh giá qua các nhân vật: đứa con trai, đứa con gái, nhà nhiếp ảnh, viên thẩm phán. Mỗi người đều từ niềm tin riêng mà phán xét.Thật thú vị là tất cả họ đều nông nổi hơn người đàn bà thất học, thô kệch ấy vì chỉ bà biết rõ rằng cuộc sống sông nước không thể thiếu bàn tay chèo chống của người đàn ông và đàn bà sống vì con cái chứ không vì mình. Trong Ăn mày dĩ vãng(Chu Lai), thực trạng thời hậu chiến với các vấn đề đạo đức và niềm tin được trần thuật qua cách nhìn của Hai Hùng, Ba Sương, Tám Tính, Ba Thành, Tường, Tuấn và qua những lời bình luận trữ tình ngoại đề của nhân vật người dẫn chuyện, tạo thành một ấn tượng phức hợp buồn vui, căm phẫn, tin yêu. Mỗi điểm nhìn trần thuật gắn liền với một sự trải nghiệm và như vậy, hiện thực được đánh giá theo nhiều cách.

Người đọc tự nhiên bị lôi cuốn vào “trò chơi” của nhà văn vì anh ta được giành quyền quyết định sau cùng đối với cái hiện thực mà nhà văn trình bày. Trong số các nhà văn đổi mới, có lẽ Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp là hai tác giả tạo ra những điểm nhìn trần thuật thật sự khác biệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Văn Xuôi Tự Sự Của Bảo Ninh Trong Bối Cảnh Văn Học Việt Nam Thời Kỳ Đổi Mới" khám phá những đặc điểm nổi bật trong phong cách văn xuôi tự sự của Bảo Ninh, một trong những tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm không chỉ phân tích sâu sắc các yếu tố nghệ thuật mà còn đặt chúng trong bối cảnh lịch sử và xã hội của thời kỳ Đổi Mới, giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự chuyển mình của văn học Việt Nam trong giai đoạn này.

Bài viết mang lại nhiều lợi ích cho độc giả, từ việc cung cấp cái nhìn tổng quan về văn học tự sự đến việc khơi gợi những suy nghĩ sâu sắc về vai trò của văn chương trong việc phản ánh thực tại. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ đặc điểm tư duy tiểu thuyết nguyễn bình phương, nơi phân tích tư duy sáng tạo của một tác giả khác trong cùng thời kỳ, hay Luận văn thạc sĩ nghệ thuật tiểu thuyết của ma văn kháng thời kỳ đổi mới, giúp bạn hiểu thêm về nghệ thuật tiểu thuyết trong bối cảnh tương tự. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hay nghệ thuật tiểu thuyết của hồ anh thái qua đức phật nàng savitri và tôi cũng là một nguồn tài liệu quý giá để bạn khám phá thêm về nghệ thuật tiểu thuyết trong văn học Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về sự phát triển của văn học trong thời kỳ Đổi Mới.