mở đầu cho văn học sau “cách mạng văn hóa”, đồng thời chất liệu được sử dụng của trào lưu này cũng được lấy từ mười năm động loạn, đặc điểm tự sự là kể về vết thương cả thể xác lẫn tâm hồn của cá nhân cũng như quần chúng nhân dân do mười năm động loạn gây nên. Nguyên tắc của thủ pháp sáng tác là kể lại một cách chân thực hiện trạng và những bạo lực của xã hội ấy. Có thể nói, Văn học vết thương giống như Văn học Ngũ Tứ, đã tạo sự chuyển biến mới đối với văn học Trung Quốc. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, nhân đạo chủ nghĩa là đề tài phổ biến và nhạy cảm ở Trung Quốc.
Văn học Ngũ Tứ không chỉ phổ biến rộng rãi chủ nghĩa nhân đạo thức tỉnh con người mà còn hình thành nên ý thức chủ thể mạnh mẽ và đặc tính rõ ràng trong sáng tác văn học mới. Sự phát triển của văn học mới sau đó dù gặp rất nhiều trắc trở, nhưng chủ nghĩa nhân đạo vẫn là chủ đề, nội dung tư tưởng mà nhiều tác giả, tác phẩm lớn hướng tới. “Cách mạng văn hóa” đã mang tới vô số tai họa cho nhân dân Trung Quốc, ở thời điểm ấy, con người không còn được là con người, mà bị biến thành công cụ đấu tranh giai cấp; một bộ phận bị ép thành “kẻ thù giai cấp” mà bị tước mất tư cách làm người; một bộ phận khác lấy “danh nghĩa làm cách mạng” mà nảy sinh thú tính tàn sát đồng loại, mất đi sự tôn nghiêm và tự trọng của bản thân. Sau khi “cách mạng văn hóa” kết thúc, mọi người nhớ về mười năm động loạn ấy, phản tư lại lịch sử, thì điểm quan trọng và nổi bật nhất chính là những phát hiện và nhận thức mới về “con người”, vấn đề bức thiết là cần phục hồi tôn nghiêm và đề cao giá trị con người.
Vì vậy, các sáng tác văn học nghệ thuật sau thời kỳ “cách mạng văn hóa”, ngay từ đầu đã tự giác gánh lấy trách nhiệm này. Trong Đại hội Văn học Toàn quốc lần 4 năm 1979, các nhà văn đã nêu cao khẩu hiệu “con người là mục đích, con người là trung tâm”, trên bình diện nhân đạo chủ nghĩa đó là sự khẳng định tác dụng vạch trần, tố 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cáo một giai đoạn lịch sử tàn nhẫn là “cách mạng văn hóa”, đồng thời là lời kêu gọi, là sự kỳ vọng đối với văn học những năm 80. Đối tượng biểu hiện của Văn học vết thương được mở rộng, các nhà văn bắt đầu chú ý đến người dân lao động tầng lớp dưới, từ đó thoát khỏi quy định giáo điều của văn học thập niên 70 và “cách mạng văn hóa” thế kỷ trước chỉ được viết về “công, nông, binh” hay nhân vật anh hùng dân tộc. Nhân vật của dòng Văn học vết thương khá đa dạng, có cả những phần tử tri thức, những người phụ nữ nông dân.
Các tác phẩm văn học là một bằng chứng sống cho một giai đoạn xã hội, một thời kỳ lịch sử, cho nên Văn học vết thương đã ghi lại một cách chân thực máu và nước mắt của một thời đại. Trào lưu này đã đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử văn học đương đại Trung Quốc, có thể ví như những tiếng nói đầu tiên, mở ra một loạt các trào lưu văn học tiếp sau đó. Văn học vết thương là phong trào đầu tiên, mở ra một thời kỳ văn học vô cùng sôi nổi của Trung Quốc, vậy nên trào lưu Văn học vết thương là đề tài nghiên cứu của nhiều công trình, bài báo khoa học. Từ năm 1977 đến 2009 có khoảng hơn 100 công trình nghiên cứu lý luận và sáng tác về Văn học vết thương hoặc “vết thương” ở Trung Quốc.
Những năm 1980, Văn học vết thương nhận được sự chú ý và quan tâm rộng rãi, nhiều cuộc thảo luận sôi nổi đã diễn ra. Văn học vết thương trở thành một đề tài văn hóa chính trị quan trọng, thu hút nhiều độc giả, nhà văn đi sâu nghiên cứu. Có người gọi là Văn học vạch trần, Văn học thương cảm, Văn học chủ nghĩa hiện thực phê phán, cũng có người gọi là: “lời mở đầu của Văn học thời kỳ mới”… Nghiên cứu về Văn học vết thương cơ bản là thảo luận các tác phẩm vết thương. Kỳ 2 năm 1979, Báo văn nghệ của Trung Quốc đăng bài Là văn học vạch trần sao? đã dẫn đến sự thảo luận về vấn đề ca ngợi công lao và vạch trần trong văn học đương đại Trung Quốc.
Sau đó tại hội 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghị của báo Văn nghệ ở Bắc Kinh đã thảo luận hai tác phẩm: Chủ nhiệm lớp và Vết thương. Cách gọi Văn học vết thương bắt đầu từ đây, cùng với việc xác lập khái niệm Văn học vết thương và thảo luận ca tụng và vạch trần. Văn học vết thương được nghiên cứu rất sôi nổi, mọi người tập trung thảo luận vào vấn đề vết thương do “cách mạng văn hóa” gây nên. Đây là vết thương lớn đối với một thế hệ thanh niên Trung Quốc trong “cách mạng văn hóa”.
Vết thương và ký ức là mệnh đề lịch sử của sự phản tư toàn diện, những người bị hại về tâm hồn, tinh thần đã không ngừng thảo vấn, thể hiện thái độ tình cảm đối với “cách mạng văn hóa” đặc biệt văn học theo đuổi phản ánh vết thương lịch sử, làm sao để tái hiện lại những vết thương ấy. Quá trình này khó khăn nhất là ở bản thân kinh nghiệm vết thương không dễ gì thể hiện và biểu đạt. Các nhà văn trải qua “cách mạng văn hóa” chính là chứng nhân của sự kiện lịch sử này, họ hiểu lịch sử của bản thân và lịch sử vết thương của mọi người, mặc dù họ bị người khác cho rằng là một nhà nghệ thuật chính trị, nhưng họ dám bước vào vùng cấm kỵ, dám dùng văn học để nói lại những gì đã xảy ra trong sự kiện lịch sử ấy. 1977 - 1987 là thời kỳ nghiên cứu Văn học vết thương sôi nổi nhất, nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, các cuộc thảo luận diễn ra sôi nổi.
Mặc dù không ít công trình văn học sử của Trung Quốc khi nhắc tới Văn học vết thương đều cho rằng tên của truyện ngắn Vết thương đã định danh cho trào lưu Văn học vết thương, nhưng truy nguyên tới cùng thì từ “vết thương” hay Văn học vết thương được giới học thuật dùng để khái quát một trào lưu văn học sớm nhất là từ khi nào? Đã có nhiều học giả nghiên cứu về vấn đề này. Có nhà nghiên cứu cho rằng Tài liệu văn học nghệ thuật thời kỳ đổi mới (1976 – 1985) của Khoa Văn học Đại học Phúc Đán đã ghi người sử dụng khái niệm Văn học vết thương sớm nhất là Trần Kị Mẫn trong bài Tiểu luận văn học “vết thương” trên báo Văn nghệ Thượng Hải số ra tháng 12 năm 1987. Trong 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cuốn giáo trình Giản sử văn học thời kỳ mới do Trần Tư Hòa chủ biên đã viết: ngày 2 tháng 9, tại hội thảo Báo văn nghệ ở Bắc Kinh, đã thảo luận Chủ nhiệm lớp và Vết thương, đề xuất Văn học vết thương bắt đầu được sử dụng rộng rãi. Giới nghiên cứu Trung Quốc chú ý tới Văn học vết thương như một khái niệm chỉnh thể có lẽ bắt đầu từ năm 1979.
Trong quãng thời gian này có rất nhiều bài viết sử dụng thuật ngữ này như Bức tranh Văn học vết thương (Bào Xương, kỳ 1 năm 1979 Tân Cảng), Cuộc đối thoại liên quan tới Văn học vết thương (Trương Xuân Dư, Bách gia văn nghệ kỳ 1 năm 1979), Văn học vết thương và vết thương trong văn học (Xương Minh Khang, Hải Âu kỳ 8 năm 1979)… Ngoài ra, còn có một giả thuyết khác cho rằng “vết thương” là từ du nhập từ nước ngoài vào, đã được giới văn học dùng để khái quát thành trào lưu văn học, sớm nhất là Hứa Giới Dục trong Thảo luận văn học Trung Quốc tại Đại học Tiểu bang San Francisco Mỹ đã nhắc tới. Hứa Giới Dục cho rằng: Trung Quốc đại lục từ tháng 10 năm 1976 trở về sau, các tác phẩm văn học thì truyện ngắn là sôi nổi nhất, nội dung được mọi người quan tâm nhiều nhất, ông gọi đó là “Hurts Generations”, chính là Văn học vết thương, bởi vì có truyện ngắn tên là Vết thương, như ngọn cờ đầu, các tác giả của kiểu văn học này đã kể về những ký ức đau thương của mình trong “cách mạng văn hóa”, không chỉ là những tổn hại tinh thần và thể xác, mà nó còn tạo thành di chứng rất lớn sau đó. Ông gọi hiện tượng vẫn đang không ngừng thu hút sự thảo luận này là Văn học vết thương. Đây là từ Văn học vết thương xuất hiện đầu tiên trong giới văn học.
Qua đó có thể thấy, cần phải nghiên cứu thêm nữa về nguồn gốc định danh Văn học vết thương. Liên quan đến việc thảo luận về khái niệm của Văn học vết thương, đây là vấn đề được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất, trong mấy năm trở lại đây, không ít nhà nghiên cứu Trung Quốc đã bắt đầu mở rộng phạm vi Văn học vết thương, bao gồm thêm một số tác 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phẩm cùng thời kỳ đó, thậm chí không chỉ hạn chế trong phạm vi truyện “vết thương” mà bao gồm cả Thơ mông lung và Tùy tưởng lục của Ba Kim cũng nằm trong phạm vi thảo luận của Văn học vết thương. Coi Một lớp người (Cố Thành), Tùy tưởng lục (Ba Kim), và Vết thương (Lư Tâm Hoa) trở thành ba tác phẩm tiêu biểu nhất của Văn học vết thương. Nghiên cứu trào lưu Văn học vết thương Trung Quốc ở Việt Nam Ở Việt Nam, nghiên cứu về phong trào Văn học vết thương của Trung Quốc dường như vẫn còn là mảnh đất khá mới mẻ.
Trong cuốn Tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ cải cách mở cửa, PGS.TS Lê Huy Tiêu đã giới thiệu về Văn học vết thương, xét theo khía cạnh nội dung có thể chia tiểu thuyết Văn học vết thương: Vạch trần tội ác của “bọn bốn tên” và phơi bày nỗi bất hạnh do mười năm động loạn gây nên; Đồng tình thương xót những cảnh ngộ của nhân dân và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ Thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân chống lại “bè lũ bốn tên” và phe phản động Vừa viết về cảnh “động loạn mười năm”, vừa nêu ra những vấn đề khiến mọi người phải suy ngẫm Còn về mặt phương pháp sáng tác, theo tác giả, “tiểu thuyết dòng Văn học vết thương đã khôi phục lại truyền thống hiện thực chủ nghĩa.