Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 1930 - 1945 được đánh giá là thời kỳ hoàng kim của văn học Việt Nam hiện đại, ghi nhận sự bùng nổ mạnh mẽ của báo chí quốc ngữ với tư cách là bệ đỡ thúc đẩy sáng tác nghệ thuật. Tuy nhiên, mảng văn học thiếu nhi tiền chiến trên báo chí định kỳ từ lâu vẫn tồn tại một khoảng trống học thuật lớn, đặc biệt là sự thiếu vắng các công trình khảo cứu chuyên sâu về tuần báo Truyền bá xuất bản từ ngày 25/8/1941 đến năm 1945 với 189 số phát hành. Nguồn tư liệu gốc trong nước bị thất lạc nghiêm trọng sau nhiều biến cố lịch sử, dẫn đến thực trạng tại Thư viện Quốc gia Việt Nam hiện chỉ còn lưu giữ được duy nhất 1 số báo. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam mã số 8220121 của tác giả Nguyễn Thị Hồng Chắt tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Đoàn Ánh Dương, đã giải quyết căn bản điểm nghẽn tư liệu này.

Mục tiêu cụ thể của công trình là phục dựng bức tranh toàn cảnh, hệ thống hóa lực lượng tác giả, tác phẩm, đồng thời giải mã các khuynh hướng nội dung và đặc sắc nghệ thuật của truyện thiếu nhi trên báo Truyền bá. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian văn hóa xuất bản Hà Nội và toàn cõi Đông Dương trong biên độ thời gian 1941 - 1945, tiếp cận trực tiếp kho số hóa Gallica của Thư viện Quốc gia Pháp và nguồn sưu tầm tư nhân. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện rõ nét qua việc định lượng, phân loại 93 tác phẩm tiêu biểu của 48 nhà văn, tái khẳng định vị thế quy mô của tổ hợp xuất bản Tân Dân do Vũ Đình Long điều hành, một thiết chế văn hóa từng quy tụ tới 28 trên tổng số 79 văn nhân lớn được ghi nhận trong công trình Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết xã hội học văn học làm hệ quy chiếu trung tâm nhằm phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa thiết chế xuất bản thương mại, môi trường báo chí tư nhân và quá trình hiện đại hóa văn học. Bên cạnh đó, lý thuyết tiếp nhận văn học được kết hợp chặt chẽ để khám phá cơ chế tương tác giữa văn bản nghệ thuật và đối tượng độc giả thanh thiếu niên thời kỳ thuộc địa. Mô hình nghiên cứu vận hành dựa trên tam giác tương tác: Nhà sản xuất văn hóa (ông chủ Vũ Đình Long và nhà in Tân Dân) - Diễn đàn truyền tải (tuần báo Truyền bá) - Công chúng tiếp nhận (học sinh và các gia đình lễ giáo).

Hệ thống khái niệm nòng cốt trong công trình được chuẩn hóa từ Từ điển thuật ngữ văn học của các học giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi. Văn học thiếu nhi được xác định theo nghĩa hẹp là những sáng tác văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho trẻ em, và theo nghĩa rộng là các tác phẩm thông thường đi vào phạm vi thưởng thức của lứa tuổi nhỏ. Các khái niệm bổ trợ gồm văn hóa đọc báo chí tiền chiến, báo nhi đồng định kỳ và nguyên lý giáo dục hiện đại chơi mà học.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát được thu thập từ các bản số hóa trên kho tư liệu Gallica của Thư viện Quốc gia Pháp kết hợp nguồn báo gốc quý hiếm do nhà sưu tầm Nguyễn Tiến Dũng cung cấp. Cỡ mẫu nghiên cứu xác định gồm 93 tác phẩm truyện hoàn chỉnh được sàng lọc từ 175 số báo tiếp cận được, trong điều kiện khuyết thiếu 14 số báo (gồm các số 111, 137, 138, 144, 145, 165, 172, 173, 174, 175, 180, 181, 182, 183) trên tổng thể 189 số phát hành của báo Truyền bá. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích nhằm tập trung tuyệt đối vào thể loại truyện thiếu nhi, loại bỏ các mẩu tin vặt hoặc quảng cáo thương mại.

Lý do lựa chọn tích hợp phương pháp xã hội học văn học, phương pháp thống kê - phân loại và phương pháp so sánh loại hình xuất phát từ yêu cầu lượng hóa khách quan diện mạo văn học sử. Phương pháp thống kê giúp xác lập chính xác tỷ lệ phân bố của từng tác giả và khuynh hướng sáng tác. Phương pháp so sánh loại hình đặt Truyền bá trong thế đối sánh với tủ sách Sách Hồng của Tự Lực văn đoàn, trong khi xã hội học văn học giúp giải mã động lực thị trường của nhà in Tân Dân. Toàn bộ tiến trình thu thập và xử lý văn bản được triển khai liên tục từ năm 2020 đến tháng 7 năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng trên mẫu 93 tác phẩm mang lại 4 phát hiện học thuật mang tính đột phá:

Thứ nhất, báo Truyền bá quy tụ lực lượng sáng tác đông đảo bậc nhất trước năm 1945 với 48 nhà văn. Trong đó, 3 cây bút chủ lực giữ vai trò rường cột gồm Thâm Tâm với 26 tác phẩm (chiếm 27,96%), Tô Hoài với 24 tác phẩm (chiếm 25,81%) và Ngọc Giao với 24 tác phẩm (chiếm 25,81%). Riêng bộ ba này đã đóng góp tới 74 tác phẩm, tương đương 79,56% tổng dung lượng truyện khảo sát. Nhóm tác giả cộng tác từ 5 đến 10 tác phẩm ghi nhận 10 cây bút tên tuổi như Hữu Mai (8 truyện), Lê Văn Trương (8 truyện), Nam Cao (7 truyện), Nguyễn Công Hoan (7 truyện).

Thứ hai, khuynh hướng truyện thế sự đời tư giữ tỷ trọng vượt trội với 34/93 tác phẩm, chiếm 36,55% (gồm 28 truyện sinh hoạt đời thường và 6 truyện đan xen yếu tố huyền thoại). Nội dung tập trung ngợi ca tình mẫu tử, tình phụ tử, đạo nghĩa gia đình và tinh thần tự lập của trẻ em nghèo thành thị.

Thứ ba, khuynh hướng sáng tác viết lại tích truyện dân gian chiếm vị trí thứ hai với 25 tác phẩm (26,88%, gồm 18 tích truyện dân gian Việt Nam và 7 tích truyện nước ngoài). Mảng truyện lịch sử đạt 16 tác phẩm (17,20%), khơi dậy lòng tự hào dân tộc qua các tấm gương anh hùng như Trưng Trắc, Nguyễn Trãi, Quang Trung. Truyện đồng thoại loài vật đạt 13 tác phẩm (13,98%), trong khi truyện khoa học và truyện trinh thám mỗi loại ghi nhận 1 tác phẩm (1,08%), kịch và dịch thuật chiếm 3 tác phẩm (3,23%).

Thứ tư, tuần báo Truyền bá chính là cái nôi đầu tiên công bố tiền thân kiệt tác Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài. Tác phẩm khởi đầu từ truyện ngắn Con dế mèn ở số 3, sau đó tiếp nối bằng hai kỳ Dế Mèn phiêu lưu ký ở số 16 và số 17 năm 1941.

Thảo luận kết quả

Căn nguyên giúp Truyền bá duy trì sức sống bền bỉ suốt 189 số báo bắt nguồn từ chiến lược quản trị văn hóa nhạy bén của Vũ Đình Long. Tân Dân đã kết hợp nhuần nhuyễn mục tiêu lợi nhuận thương mại với đạo đức truyền thống và khẩu hiệu chơi mà học. Với mức giá phát hành bình dân 0,10 đồng cho một ấn bản 26 đến 36 trang khổ nhỏ 11,3 x 18,5 cm, Truyền bá dễ dàng tiếp cận đại chúng học sinh hơn các ấn phẩm đắt đỏ đương thời.

So với đối thủ cạnh tranh trực tiếp là tủ sách Sách Hồng của Tự Lực văn đoàn (vốn chỉ xuất bản được 31 cuốn có đánh số với nòng cốt khép kín gồm 7 thành viên lãng mạn), Truyền bá của Tân Dân thể hiện tính chất mở rộng vượt trội. Tờ báo quy tụ tới 48 cây bút thuộc mọi xu hướng văn học, từ hiện thực phê phán như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan đến lãng mạn như Thanh Châu, Hoàng Cầm.

Toàn bộ cấu trúc dữ liệu của công trình có thể được biểu đạt trực quan thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 6 khuynh hướng đề tài, làm nổi bật tỷ trọng 36,55% của truyện thế sự đời tư. Đồng thời, một biểu đồ cột kép đối sánh số lượng tác phẩm giữa ba tác giả nòng cốt (Thâm Tâm 26, Tô Hoài 24, Ngọc Giao 24) và các nhóm tác giả vệ tinh sẽ lột tả sinh động sự phân hóa năng lực sáng tạo trong thiết chế báo chí Tân Dân. Phát hiện này khẳng định văn học thiếu nhi tiền chiến đã vận hành như một thị trường xuất bản chuyên nghiệp chứ không dừng lại ở mức độ thử nghiệm tự phát.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn mở ra 4 nhóm khuyến nghị hành động thiết thực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa học thuật:

Một là, tiến hành số hóa, phục dựng chuẩn quốc gia 100% các ấn bản báo chí thiếu nhi trước năm 1945. Viện Văn học phối hợp cùng Thư viện Quốc gia Việt Nam đặt mục tiêu truy tầm và khôi phục trọn vẹn 14 số báo còn thiếu của tờ Truyền bá từ các trung tâm lưu trữ hải ngoại trước năm 2026.

Hai là, tổ chức tuyển chọn, biên soạn và tái bản bộ sách Tinh hoa văn học thiếu nhi Tân Dân với quy mô tối thiểu 3000 bản in. Nhà xuất bản Kim Đồng chủ trì thực hiện dự án trước quý 4 năm 2025, chọn lọc 40 truyện ngắn đặc sắc nhất của Thâm Tâm, Ngọc Giao, Tô Hoài để phục vụ thế hệ bạn đọc nhỏ tuổi hôm nay.

Ba là, tích hợp từ 3 đến 5 tác phẩm truyện đồng thoại và tích truyện lịch sử trên báo Truyền bá vào hệ thống ngữ liệu đọc mở rộng môn Ngữ văn cấp Tiểu học và Trung học cơ sở. Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định và chỉ đạo triển khai thí điểm tại 50 cơ sở giáo dục trên toàn quốc trong giai đoạn 2025 - 2027.

Bốn là, thiết lập cổng dữ liệu mở chuyên khảo về 48 tác giả thiếu nhi nhóm Tân Dân với hơn 1000 trang tư liệu nghiên cứu quét số độ phân giải cao. Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên chủ trì liên kết với các trường đại học xã hội nhân văn để hoàn thành cơ sở dữ liệu học thuật này trước năm 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình mang lại giá trị ứng dụng cụ thể cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm trong hệ sinh thái học thuật và văn hóa:

Thứ nhất là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam cùng Lịch sử báo chí. Công trình cung cấp tư liệu chuẩn xác về 189 số báo Truyền bá và 48 tác giả tiền chiến, hỗ trợ trực tiếp cho các nghiên cứu lịch sử văn học giai đoạn 1930 - 1945.

Thứ hai là các nhà văn, nhà biên kịch và biên tập viên sách thiếu nhi đương đại. Nhóm này tiếp thu được nghệ thuật phân bổ cốt truyện, bút pháp nhân hóa đồng thoại độc đáo từ 24 tác phẩm của Tô Hoài và 26 truyện của Thâm Tâm nhằm nâng cao chất lượng sáng tác văn học hiện đại.

Thứ ba là giáo viên phổ thông và các chuyên gia giáo dục phát triển văn hóa đọc học đường. Nguồn ngữ liệu phong phú gồm 34 truyện thế sự đời tư và 25 truyện tích cổ mang đến bài học giáo dục đạo đức gia đình sâu sắc, thích hợp làm tài liệu kể chuyện ngoại khóa.

Thứ tư là các chuyên viên lưu trữ thư viện và bảo tàng tư liệu văn hóa. Luận văn cung cấp phương pháp luận khảo sát, xử lý dữ liệu số hóa từ kho Gallica, hỗ trợ chuẩn hóa quy trình phân loại thư tịch báo chí thời kỳ thuộc địa.

Câu hỏi thường gặp

Báo Truyền bá giữ vai trò như thế nào đối với kiệt tác Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài? Báo Truyền bá là nơi công bố bản in đầu tiên của tác phẩm dưới nhan đề Con dế mèn ở số 3 năm 1941. Nhận thấy sự hưởng ứng nhiệt liệt của độc giả, Tô Hoài viết tiếp thiên truyện Dế Mèn phiêu lưu ký gồm hai kỳ trên các số 16 và 17, tạo bệ phóng đưa thiên truyện trở thành tác phẩm kinh điển.

Sự khác biệt cốt lõi giữa báo Truyền bá và tủ sách Sách Hồng là gì? Tủ sách Sách Hồng của Tự Lực văn đoàn mang tính khép kín với 31 ấn phẩm của 7 tác giả lãng mạn. Ngược lại, báo Truyền bá là tuần báo đại chúng giá rẻ 0,10 đồng, phát hành 189 số, quy tụ 48 tác giả thuộc mọi trường phái, kết hợp truyện đọc với khoa học thường thức và khuyến học.

Khuynh hướng sáng tác nào chiếm ưu thế tuyệt đối trên báo Truyền bá? Khuynh hướng thế sự đời tư chiếm tỷ lệ cao nhất với 34/93 tác phẩm, tương đương 36,55% số lượng khảo sát. Các tác phẩm đi sâu miêu tả cuộc sống của người lao động nghèo, tình mẫu tử, tình phụ tử và tình bạn, nhằm giáo dục nhân cách nhẹ nhàng cho lứa tuổi thiếu niên.

Vì sao tư liệu gốc của báo Truyền bá tại Việt Nam lại đặc biệt khan hiếm? Do bối cảnh chiến tranh khốc liệt giai đoạn 1945 - 1954 cùng chất lượng giấy in thời chiến dễ hư hỏng, hầu hết các số báo bị tiêu hủy. Thư viện Quốc gia Việt Nam hiện chỉ còn đúng 1 số duy nhất, buộc tác giả phải khai thác kho lưu trữ số hóa Gallica của Thư viện Quốc gia Pháp.

Phương pháp nghiên cứu nào đóng vai trò then chốt trong luận văn? Luận văn tích hợp phương pháp xã hội học văn học cùng phương pháp thống kê trên mẫu 93 tác phẩm. Cách tiếp cận này giúp vừa định lượng chính xác cơ cấu đề tài của 48 tác giả, vừa giải mã cơ chế xuất bản thương mại của nhóm Tân Dân trong đời sống văn học tiền chiến.

Kết luận

Năm giá trị đúc kết cốt lõi từ công trình nghiên cứu bao gồm:

  • Luận văn đã phục dựng toàn diện diện mạo tuần báo Truyền bá (1941 - 1945) qua 189 số phát hành, khẳng định đây là diễn đàn văn học thiếu nhi có quy mô đồ sộ bậc nhất trước Cách mạng tháng Tám.
  • Thống kê, phân loại khoa học hệ thống 48 tác giả cùng 93 truyện ngắn tiêu biểu, làm nổi bật sức sáng tạo bền bỉ của Thâm Tâm (26 tác phẩm), Tô Hoài (24 tác phẩm) và Ngọc Giao (24 tác phẩm).
  • Xác lập cơ cấu 6 khuynh hướng đề tài, khẳng định vị thế chủ đạo của truyện thế sự đời tư với 36,55%, hiện thực hóa tôn chỉ giáo dục luân lý chơi mà học của những gia đình lễ giáo.
  • Làm rõ đóng góp của ông chủ Vũ Đình Long và nhà in Tân Dân trong việc chuyên nghiệp hóa thị trường báo chí nhi đồng, tạo tiền đề khai sinh kiệt tác Dế Mèn phiêu lưu ký.
  • Mở ra phương thức tiếp cận tư liệu văn học sử mới mẻ thông qua việc khai thác kho di sản số hóa quốc tế Gallica để giải quyết tình trạng thiếu hụt văn bản lưu trữ trong nước.

Đóng góp của luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Chắt không chỉ lấp đầy khoảng trống lịch sử văn học thiếu nhi trước 1945 mà còn tôn vinh di sản xuất bản của nhóm Tân Dân. Trong lộ trình 2024 - 2026, các cơ quan văn hóa cần sớm tái bản nguồn tư liệu quý báu này. Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và thầy cô giáo hãy tìm đọc toàn văn luận văn để tiếp cận nguồn sử liệu văn học thiếu nhi Việt Nam đặc sắc và trọn vẹn nhất.