Tổng quan nghiên cứu

Văn học thiếu nhi Việt Nam giai đoạn trước năm 1945 ghi nhận những bước chuyển mình mang tính bước ngoặt từ hệ hình trung đại sang hiện đại. Trong tiến trình vận động này, việc nhóm Tự Lực văn đoàn khởi xướng tủ sách mang tên Sách Hồng từ tháng 9 năm 1939 đến giữa năm 1945 là một hiện tượng xuất bản đặc sắc. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam với mã số 8220121 đã đi sâu khai phóng mảng đề tài giàu giá trị nhân văn này. Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: xác lập vị thế độc lập của văn học viết cho thiếu nhi trong đời sống văn học hiện đại, đồng thời đánh giá toàn diện những cách tân về tư tưởng và nghệ thuật của nhóm tác giả Đời Nay.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa toàn bộ 31 ấn phẩm định kỳ có đánh số cùng 9 ấn phẩm đặc biệt trong loại Sách Hồng, từ đó phân tích các khuynh hướng sáng tác, nghệ thuật giáo dục tâm hồn và kỹ năng xã hội cho thiếu niên nhi đồng. Phạm vi khảo sát được định vị chặt chẽ trong không gian xuất bản đô thị Hà Nội giai đoạn 1939 – 1945, đặt trong tương quan so sánh với diện mạo báo chí phụ nữ và văn học thiếu nhi đương thời.

Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của đề tài được lượng hóa rõ rệt qua việc phục dựng tư liệu lịch sử. Ngay khi phát hành vào tháng 9 năm 1939, tác phẩm mở đầu Ông đồ bể của tác giả Khái Hưng đã lập kỷ lục tiêu thụ gần 10.000 cuốn chỉ trong 7 ngày mở bán. Với mức giá phát hành cố định 1 hào mỗi cuốn, tủ sách đã hiện thực hóa chiến lược bình dân hóa tri thức, đưa văn hóa đọc tiếp cận hơn 80% gia đình lao động đô thị và nông thôn lúc bấy giờ, đặt nền móng vững chắc cho văn học thiếu nhi dân tộc suốt hơn 80 năm qua.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận điểm dựa trên nền tảng của hai lý thuyết văn học hiện đại: lý thuyết xã hội học văn học và lý thuyết tiếp nhận văn học. Xã hội học văn học cho phép xem xét Sách Hồng như một thiết chế văn hóa hoàn chỉnh, nơi quá trình sáng tác gắn liền hữu cơ với công nghệ in ấn, hệ thống phát hành của nhà xuất bản Đời Nay và bối cảnh chuyển dịch tư tưởng xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX. Lý thuyết tiếp nhận văn học hỗ trợ soi chiếu cơ chế tương tác giữa tác phẩm với tầm đón nhận của đối tượng độc giả nhỏ tuổi.

Về mặt khái niệm, công trình phân định ranh giới giữa văn học thiếu nhi theo nghĩa hẹp (tác phẩm sáng tác hoặc phổ biến khoa học chủ đích dành riêng cho lứa tuổi nhi đồng) và nghĩa rộng (tác phẩm cho người lớn nhưng đi vào trường tiếp nhận của trẻ em). Luận văn kết hợp phân tích 10 điều tôn chỉ do Tự Lực văn đoàn công bố ngày 2 tháng 3 năm 1934 trên báo Phong Hóa số 87. Các tôn chỉ này nhấn mạnh việc dùng lối văn giản dị, ít chữ Nho, đề cao chủ nghĩa bình dân, tinh thần duy tân tiến bộ và áp dụng phương pháp khoa học phương Tây vào việc xây dựng văn sản quốc ngữ cho thế hệ trẻ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập chủ yếu từ kho tài nguyên số hóa Gallica của Thư viện Quốc gia Pháp, kết hợp đối chiếu hệ thống lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam và hơn 200 số báo Phong Hóa cùng Ngày Nay xuất bản từ năm 1932 đến năm 1940. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 40 tác phẩm trọn vẹn, cấu thành từ 31 tập định kỳ và 9 tập Sách Hồng đặc biệt. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu chủ đích toàn diện, đảm bảo khảo sát 100% các văn bản thuộc loại Sách Hồng còn được bảo tồn đến ngày nay.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích xã hội học kết hợp so sánh lịch sử là nhằm bảo đảm tính liên ngành: vừa định lượng được quy mô tác động xã hội của nhà xuất bản Đời Nay, vừa định tính được giá trị tư tưởng nghệ thuật của từng tác giả. Toàn bộ quá trình nghiên cứu, khảo sát văn bản và xử lý dữ liệu được tác giả thực hiện liên tục trong thời gian 24 tháng, trải dài qua các niên khóa cao học từ năm 2020 đến năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát hệ thống 40 tác phẩm trong loại Sách Hồng mang lại ba phát hiện quan trọng có ý nghĩa học thuật sâu sắc:

Thứ nhất, về cơ cấu tác giả và ấn phẩm, lực lượng sáng tác nòng cốt chính là các cây bút trụ cột của Tự Lực văn đoàn. Khái Hưng là tác giả có số lượng đầu sách nhiều nhất với 10 tác phẩm, chiếm 25% tổng dung lượng tủ sách. Hoàng Đạo giữ vị trí thứ hai với 8 tác phẩm, chiếm 20% dung lượng. Thạch Lam với bút danh Thiện Sĩ và nhà thơ trào phúng Tú Mỡ cùng đóng góp khoảng 15% tác phẩm qua các thể loại truyện tâm lý và truyện thơ dân gian độc đáo. Bên cạnh đó, sự tham gia của các cộng tác viên như Huyền Kiêu, Huyền Hà, V. Minh chiếm 40% còn lại, tạo nên sự phong phú cho tủ sách.

Thứ hai, về phân bổ khuynh hướng sáng tác, khoảng 65% tác phẩm tập trung vào sáng tác nguyên bản đề cao luân lý dân tộc, tinh thần tự lực và bổ trợ kỹ năng sống. Khoảng 35% dung lượng còn lại dành cho hoạt động dịch thuật tinh hoa văn học thế giới, nổi bật là 4 tập truyện Robinson Crusoe của Daniel Defoe do Thế Lữ dịch và 4 tập Sách Rừng của Rudyard Kipling do Huyền Hà chuyển ngữ.

Thứ ba, về năng lực tiếp cận thị trường, Sách Hồng thiết lập một kỷ lục xuất bản hiếm thấy ở giai đoạn tiền chiến. Ấn phẩm đầu tiên bán hết gần 10.000 bản chỉ sau 7 ngày phát hành. Mức giá bán đồng nhất 1 hào mỗi cuốn đã giảm chi phí mua sách xuống hơn 50% so với giá bán trung bình từ 2 đến 3 hào của các tiểu thuyết lãng mạn thông thường, biến sách thiếu nhi thành một sản phẩm văn hóa phổ thông.

Thảo luận kết quả

Thành công vượt trội của Sách Hồng bắt nguồn từ việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy giáo dục hiện đại và mô hình xuất bản tự chủ của nhà xuất bản Đời Nay. Trái ngược với quan niệm phong kiến xem trẻ em như người lớn thu nhỏ cần nhồi nhét giáo điều kinh viện, các tác giả Đời Nay nhìn nhận tuổi thơ như một thực thể độc lập có nhu cầu thẩm mỹ riêng biệt. Tủ sách đã khéo léo kết hợp yếu tố kỳ ảo dân gian với tinh thần khoa học thực nghiệm, tôn vinh tình yêu thiên nhiên và sự tự lập cá nhân.

Khi thảo luận chuyên sâu, các dữ liệu định lượng về cơ cấu nội dung có thể được trình bày tường minh qua biểu đồ hình quạt, làm nổi bật tỷ trọng 65% tác phẩm quốc nội so với 35% tác phẩm dịch thuật. Đi kèm với đó, một bảng ma trận đối chiếu 40 tác phẩm theo 3 trục tiêu chí: thể loại (truyện ngắn, kịch, truyện thơ, cẩm nang hướng đạo), đối tượng nhân vật (con người, động vật đồng thoại, nhân vật cổ tích) và mục tiêu giáo dục (đạo đức, kỹ năng xã hội, khám phá khoa học) sẽ giúp trực quan hóa toàn bộ tiến trình cách tân.

So với các công trình đi trước, tiêu biểu là bài khảo cứu năm 2014 của học giả Đỗ Quý Toàn tại Hoa Kỳ vốn chỉ dừng ở mức nhận định khái quát chủ trương đạo đức, luận văn này đi xa hơn khi chứng minh Sách Hồng đã mở rộng biên độ sang đào tạo kỹ năng mềm qua tác phẩm cẩm nang Hai tháng của một hướng đạo sinh Việt Nam. Kết quả này lý giải vì sao trong suốt 6 năm vận hành (1939 – 1945), lượng phát hành của Sách Hồng đã tăng trưởng hơn 300% so với toàn bộ các ấn phẩm thiếu nhi xuất hiện lẻ tẻ trên báo chí giai đoạn 1930 – 1935.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kế thừa và phát huy những giá trị học thuật của loại Sách Hồng vào thực tiễn xuất bản và giáo dục hiện đại, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị hành động cụ thể:

Thứ nhất, tiến hành số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu mở cho 100% tài liệu nguyên bản của 40 ấn phẩm Sách Hồng. Mục tiêu hoàn thành trong vòng 12 tháng, do Viện Văn học chủ trì phối hợp cùng Thư viện Quốc gia Việt Nam, tạo nguồn tư liệu số chuẩn xác cho cộng đồng nghiên cứu trong nước và quốc tế.

Thứ hai, tái bản có chọn lọc tuyển tập 5 tác phẩm tiêu biểu (gồm Ông đồ bể, Cây tre trăm đốt, Con cá thần, Bông cúc huyền và bộ Sách Rừng) với sản lượng mục tiêu 50.000 bản in trong vòng 18 tháng. Nhiệm vụ này khuyến nghị giao cho Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà xuất bản Trẻ triển khai, áp dụng hình thức mỹ thuật phục cổ kết hợp minh họa đương đại.

Thứ ba, tích hợp các văn bản truyện ngắn giàu tính nhân văn của Thạch Lam và Khái Hưng vào chương trình đọc mở rộng môn Ngữ văn cấp tiểu học và trung học cơ sở tại 63 tỉnh thành. Chỉ tiêu đặt ra là tiếp cận tối thiểu 100.000 học sinh trước năm 2028 dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhằm bồi dưỡng lòng trắc ẩn và tình yêu tiếng Việt trong sáng.

Thứ tư, chuyển thể các tích truyện đồng thoại và bài học hướng đạo từ Sách Hồng sang định dạng đa phương tiện như sách nói và phim hoạt hình 2D ngắn trong giai đoạn 2026 – 2030, do các đơn vị công nghệ giáo dục số phối hợp thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực chứng và định hướng thực hành cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Nhà nghiên cứu và giảng viên văn học Việt Nam hiện đại: Luận văn cung cấp hệ thống tư liệu sơ cấp chuẩn xác, hỗ trợ nâng cấp 100% nội dung các chuyên đề lịch sử văn học giai đoạn 1930 – 1945, làm sáng tỏ một mảng sáng tác quan trọng từng bị khuất lấp của Tự Lực văn đoàn.

Biên tập viên và chuyên gia xuất bản sách thiếu nhi: Nghiên cứu cung cấp case study thực tế về mô hình định giá 1 hào và kỹ nghệ tổ chức bản thảo cho hơn 50 đơn vị làm sách hiện nay, giúp các nhà xuất bản tối ưu hóa chi phí sản xuất và xây dựng chiến lược tiếp cận độc giả đại chúng bền vững.

Giáo viên phổ thông và chuyên viên tâm lý giáo dục: Nguồn tư liệu phong phú từ các truyện đồng thoại và sách hướng đạo giúp thầy cô thiết kế hơn 80 tiết học trải nghiệm, giáo dục kỹ năng sinh tồn, tinh thần tập thể và ý thức bảo vệ động vật hoang dã cho học sinh lứa tuổi 6 đến 14.

Học viên sau đại học và sinh viên ngành Khoa học Xã hội: Đề tài là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp xã hội học văn học với nghiên cứu xuất bản, mở ra nhiều gợi ý nghiên cứu liên ngành trong khung thời gian từ 3 đến 5 năm tới.

Câu hỏi thường gặp

Tủ Sách Hồng của Tự Lực văn đoàn ra đời trong khoảng thời gian nào và phát hành được bao nhiêu ấn bản? Tủ Sách Hồng chính thức ra mắt độc giả từ tháng 9 năm 1939 và khép lại vào giữa năm 1945 do nhà xuất bản Đời Nay ấn hành. Khảo sát thực tế xác định tủ sách phát hành được 31 ấn phẩm định kỳ có đánh số cùng 9 ấn phẩm Sách Hồng đặc biệt, nâng tổng số tác phẩm lên 40 tập truyện, kịch, truyện thơ và cẩm nang kỹ năng.

Vì sao Sách Hồng được coi là bước ngoặt hiện đại hóa văn học thiếu nhi Việt Nam? Trước năm 1939, văn học thiếu nhi chủ yếu tồn tại dưới dạng truyện dân gian sưu tầm hoặc bài học in rải rác trên báo phụ nữ. Sách Hồng là mô hình xuất bản chuyên nghiệp đầu tiên xác lập thiếu nhi làm đối tượng tiếp nhận trung tâm, kết hợp giáo dục nhân cách với thẩm mỹ hiện đại và áp dụng mức giá bình dân 1 hào tiếp cận hơn 80% hộ gia đình.

Tác giả nào đóng góp nhiều tác phẩm nhất trong loại Sách Hồng? Khái Hưng là ngòi bút sáng tác tích cực và bền bỉ nhất trong tủ sách với 10 đầu sách, chiếm 25% tổng số tác phẩm. Ông đa dạng hóa ngòi bút từ truyện cổ tích hiện đại hóa như Cây tre trăm đốt, kịch bản sân khấu Cóc tía, đến tác phẩm lồng ghép hướng dẫn kỹ năng dã ngoại Cắm trại.

Hoạt động dịch thuật trong Sách Hồng có nét gì đặc sắc so với các xuất bản phẩm cùng thời? Mảng dịch thuật chiếm 35% tỷ trọng Sách Hồng, giới thiệu có hệ thống các kiệt tác văn học thiếu nhi thế giới bằng văn phong tiếng Việt trong sáng. Nổi bật nhất là bản dịch 4 tập truyện Robinson Crusoe của Daniel Defoe do Thế Lữ thực hiện và bộ 4 tập Sách Rừng của Rudyard Kipling do Huyền Hà chuyển ngữ, truyền cảm hứng phiêu lưu và tinh thần hướng đạo.

Bài học cốt lõi từ mô hình giá rẻ 1 hào của nhà xuất bản Đời Nay đối với thị trường sách ngày nay là gì? Chiến lược định giá 1 hào giúp giảm hơn 50% chi phí mua sách so với các ấn phẩm thông thường, khẳng định triết lý văn hóa đi đôi với phụng sự xã hội. Bài học rút ra cho ngành xuất bản sau hơn 80 năm là muốn phát triển văn hóa đọc sâu rộng, ấn phẩm giáo dục phải dung hòa được chất lượng nội dung cao cấp với mức giá vừa vặn túi tiền đại chúng.

Kết luận

Nhìn lại toàn bộ công trình, luận văn thạc sĩ đã đúc kết 5 đóng góp học thuật cốt lõi:

  • Phục dựng và hệ thống hóa khoa học trọn vẹn 40 ấn phẩm thuộc loại Sách Hồng giai đoạn 1939 – 1945 dựa trên nguồn tư liệu số hóa tin cậy.
  • Làm rõ vai trò trụ cột của 4 tác giả Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ cùng mạng lưới dịch giả, cộng tác viên ngoài nhóm trong việc định hình diện mạo văn học thiếu nhi hiện đại.
  • Chứng minh tính tiên phong của chiến lược xuất bản bình dân đồng giá 1 hào kết hợp mỹ thuật bìa hoa hồng hiện đại theo quy chuẩn quốc tế.
  • Khẳng định giá trị kép của tủ sách: vừa bồi dưỡng tâm hồn bằng tiếng Việt thuần khiết, vừa huấn luyện kỹ năng sống và tinh thần hướng đạo thực tiễn.
  • Thiết lập hệ phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa xã hội học văn học, lý thuyết tiếp nhận và lịch sử xuất bản báo chí.

Về kế hoạch tiếp theo trong lộ trình 3 năm tới, giới nghiên cứu cần mở rộng so sánh Sách Hồng với các tủ sách thiếu nhi đương thời tại Đông Á và Đông Nam Á. Luận văn là lời kêu gọi mạnh mẽ gửi tới các nhà hoạch định giáo dục và các nhà xuất bản hãy số hóa, tái bản và đưa những viên ngọc quý của văn sản thiếu nhi trước năm 1945 trở lại với độc giả nhỏ tuổi hôm nay.