Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài Quan niệm văn học là vũ khí cách mạng và ảnh hưởng của nó đối với thơ 1945-1985 do nghiên cứu sinh Trần Thị Minh Giới thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Bá Thành, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2011. Công trình thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số đào tạo 62 22 34 01.

Văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1985 là một nền văn học gắn liền với tiến trình chính trị của đất nước, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản, phản ánh sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các thuộc tính chính trị, đấu tranh giai cấp và tính đảng được xác định là nguyên tắc cốt lõi, chi phối phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trong hệ thống các thể loại, thơ ca được xem là phương tiện phản ánh nhạy bén, thể hiện sâu sắc tinh thần "tiếng hát át tiếng bom". Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, đặc biệt từ thập niên 1990, nền văn học chuyển biến theo cơ chế mới, nhiều thuật ngữ lý luận của giai đoạn trước dần lùi vào quá khứ. Tuy nhiên, các nguyên lý căn bản của giai đoạn 1945 – 1985, tiêu biểu là quan niệm xem văn học là một thứ vũ khí tư tưởng, vẫn duy trì sức ảnh hưởng sâu sắc đến thực tiễn sáng tác và lý luận văn học hiện đại. Trước thời điểm luận án được công bố, vấn đề tính chất vũ khí của văn nghệ chỉ mới được đề cập phân tán trong các bài phát biểu, bài báo hoặc tham luận chính trị mà chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống nào khảo cứu nguồn gốc và tác động toàn diện của nó đối với tiến trình phát triển của thơ ca.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là khảo cứu sự hình thành, vận động và phát triển của quan niệm thơ là vũ khí trong văn học cách mạng giai đoạn 1945 – 1985; đồng thời xác định mức độ chi phối của quan niệm này đối với toàn bộ nền thơ cách mạng, tập trung chủ yếu vào thể loại thơ trữ tình và một phần thơ trào phúng, đả kích. Qua việc khảo sát hệ thống hình tượng tiêu biểu và các bài thơ suy tưởng tổng hợp của những tác giả lớn như Chế Lan Viên, Sóng Hồng, Xuân Diệu, luận án làm rõ sự biến đổi trong cấu trúc thể loại, tư duy nghệ thuật và ngôn ngữ thơ.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung chính:

  1. Xác lập cơ sở lý luận từ chủ nghĩa Mác - Lênin, thực tiễn văn học cách mạng quốc tế và truyền thống dân tộc; hệ thống hóa các quan điểm về văn hóa văn nghệ là mặt trận, tác phẩm văn nghệ là vũ khí trong các văn kiện, chỉ thị của Đảng và phát biểu của các nhà lãnh đạo, lý luận văn nghệ.
  2. Phân tích ảnh hưởng của quan niệm văn học là vũ khí đối với sự vận động của nền thơ theo định hướng chiến đấu và sự kết tinh ở hệ thống các hình tượng thơ chung (Tổ quốc, người chiến sĩ, kẻ thù, nhân dân, Bác Hồ).
  3. Đánh giá tác động của quan niệm văn học là vũ khí đối với sự thay đổi của tư duy nghệ thuật (khuynh hướng duy lý, sự lấn át của cái ta cộng đồng đối với cái tôi cá nhân, sự lấn át của tự sự đối với trữ tình) và các đặc trưng ngôn ngữ thơ (chính luận, kêu gọi, đối thoại).

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các tác phẩm và tác giả thơ cách mạng giai đoạn 1945 – 1985; các công trình lý luận, phê bình văn học và các cuộc thảo luận, tranh luận văn học liên quan trực tiếp đến quan niệm thơ là vũ khí. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các sáng tác thơ ca cách mạng được sáng tác và ấn hành công khai trong nước trong khung thời gian 1945 – 1985. Để làm sáng tỏ quy luật vận động, luận án mở rộng đối chiếu với thơ ca giai đoạn trước năm 1945, sau năm 1985, cũng như liên hệ với các dòng thơ đối kháng ngoài nước và các nền văn học cách mạng trên thế giới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần lịch sử vấn đề, tác giả luận án xác định quan niệm văn học là vũ khí cách mạng chưa từng được khảo sát thành một công trình khoa học độc lập trước năm 2011. Do đó, việc điểm luận tài liệu đòi hỏi phải truy nguyên các nguồn tư liệu văn kiện, các phát biểu chính trị và các bài viết lý luận - phê bình chuyên môn xuất hiện qua từng giai đoạn lịch sử.

Về phương diện chỉ đạo đường lối, luận án điểm lại các văn kiện có tính chất cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam:

  • Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943) do Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo, xác lập ba nguyên tắc căn bản: "Dân tộc, Khoa học, Đại chúng", coi văn hóa là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hóa) và định hướng cuộc đấu tranh cho phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa.
  • Báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948) của Trường Chinh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai, khẳng định tính giai cấp của văn hóa, xem văn nghệ cách mạng là công cụ vạch trần xã hội cũ và tổ chức quần chúng đấu tranh.
  • Hệ thống Thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi các kỳ Đại hội Văn nghệ toàn quốc: Đại hội lần II (tháng 2/1957) nhấn mạnh việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và nâng cao lập trường tư tưởng; Đại hội lần III (tháng 11/1962) xác định nhiệm vụ phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước, chống biểu hiện hình thức và tự nhiên chủ nghĩa; Đại hội lần IV (tháng 1/1968) kêu gọi phát huy tối đa chức năng vũ khí chiến đấu diệt Mỹ trên mặt trận văn nghệ.
  • Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 16-6-2008 về "Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới", tiếp tục khẳng định danh hiệu vẻ vang "nhà văn - chiến sĩ".

Về ý kiến của các lãnh đạo và các văn nghệ sĩ chủ chốt:

  • Chủ tịch Hồ Chí Minh qua thư gửi các họa sĩ năm 1951 ("Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy") và các phát biểu chỉ đạo tại các hội nghị cán bộ văn hóa năm 1958, Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua năm 1962.
  • Sóng Hồng với bài thơ Là thi sĩ và lời tựa cho tập thơ Thơ, khẳng định chức năng đấu tranh giai cấp của nghệ thuật ngôn từ.
  • Tố Hữu với bài phát biểu Tâm sự làm thơ và tập tiểu luận Qua cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại “Nhân văn - Giai phẩm” trên mặt trận văn nghệ, nhìn nhận thơ ca trực tiếp từ góc độ vũ khí đấu tranh hệ tư tưởng.
  • Đặng Thai Mai với Văn học khái luận (1944) xác định văn học luôn có tính mục đích, và bài viết năm 1963 trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học nhấn mạnh nguyên tắc tính đảng.
  • Nguyễn Đình Thi với tiểu luận Nhận đường, Hoài Thanh với bài viết Nói chuyện thơ kháng chiến.

Về các công trình nghiên cứu và bài viết lý luận - phê bình chuyên môn:

  • Trên Tạp chí Văn học và Tạp chí Nghiên cứu Văn học các giai đoạn 1960 – 1985: các nghiên cứu về tính đảng, thế giới quan và chức năng chiến đấu của Nam Mộc (1960, 1964), Vũ Đức Phúc (1960, 1964, 1974), Hoàng Như Mai (1963), Thành Duy (1965), Nguyễn Xuân Nam (1965, 1984), Nguyễn Văn Hạnh (1966), Hồng Chương (1968, 1973, 1976), Lê Anh Trà (1969), Lê Xuân Vũ (1973), Nguyễn Nghiệp (1974), Phan Cự Đệ (1975, 1976), Bùi Công Hùng (1974, 1983, 1986, 1987).
  • Hệ thống giáo trình lý luận văn học đại học: bộ giáo trình Cơ sở Lí luận văn học (1965) của tập thể Tổ Bộ môn lý luận văn học các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Sư phạm Vinh và Đại học Tổng hợp Hà Nội, trong đó chuyên mục về Tính đảng do Nguyễn Văn Hạnh và Thành Thế Thái Bình biên soạn đã chuẩn hóa quan niệm văn học là công cụ đấu tranh giai cấp.
  • Các công trình chuyên khảo xuất bản sau năm 1986: các ấn phẩm của Hà Minh Đức như Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thơ ca (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (1998), Đường lối văn nghệ của Đảng và những thành tựu của nền văn học cách mạng (2001); các công trình của Mã Giang Lân gồm Nhìn lại thơ 30 năm chiến tranh (1992), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam (2004).

Bên cạnh đó, luận án tổng thuật các trường hợp tác phẩm và quan điểm nghệ thuật từng trở thành tâm điểm phê phán do bị đánh giá là suy giảm tính chiến đấu hoặc xa rời lập trường vũ khí tư tưởng: các sáng tác thời kỳ kháng chiến chống Pháp bị coi là vướng dư âm lãng mạn (Tây Tiến của Quang Dũng, Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Ngày về của Chính Hữu, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm); các tác phẩm bị đánh giá có vấn đề tư tưởng thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ (Vào đời của Hà Minh Tuân, Đi bước nữa của Nguyễn Thế Phương, Cửa mở của Việt Phương, Vòng trắng của Phạm Tiến Duật, Sẹo đất của Ngô Văn Phú); quan niệm về "tính toàn nhân loại" trong chuyên luận Phương pháp nghệ thuật của Lê Đình Kỵ; khái niệm "chủ nghĩa hiện thực phải đạo" cùng phân loại cảm xúc "âm tính - dương tính" của Hoàng Ngọc Hiến.

Nhóm tài liệu khảo sát Văn bản / Tác giả tiêu biểu Nội dung liên quan trực tiếp đến quan niệm vũ khí
Văn kiện chỉ đạo của Đảng Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943), Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948), Thư Trung ương Đảng gửi các Đại hội Văn nghệ (1957, 1962, 1968) Xác lập quan niệm văn nghệ là mặt trận, định hướng phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, yêu cầu tính đảng và tính chiến đấu.
Phát biểu của lãnh đạo và văn nghệ sĩ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, Sóng Hồng, Đặng Thai Mai Khẳng định văn nghệ phục vụ công nông binh, nhà văn là người chiến sĩ, ngòi bút có sức mạnh như vũ khí quân sự.
Diễn đàn lý luận trên Tạp chí Văn học Nam Mộc, Vũ Đức Phúc, Hồng Chương, Nguyễn Văn Hạnh, Phan Cự Đệ, Bùi Công Hùng Phân tích mối quan hệ giữa thế giới quan vô sản và sáng tác; đề cao tính đảng như linh hồn của phương pháp nghệ thuật.
Giáo trình đại học giai đoạn 1960 – 1985 Cơ sở Lí luận văn học (1965) - ĐH Sư phạm Hà Nội, Vinh, ĐH Tổng hợp Hà Nội Định nghĩa có tính quy phạm về tính đảng, tính giai cấp và chức năng phục vụ đấu tranh chính trị của văn học.
Công trình nghiên cứu giai đoạn đổi mới Hà Minh Đức (1997, 1998, 2001), Mã Giang Lân (1992, 2004) Đánh giá lại những thành tựu của thơ ca kháng chiến gắn với đường lối văn nghệ của Đảng và thực tiễn lịch sử.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là tổng hợp, hệ thống hóa và phân tích chuyên sâu nguồn gốc triết học, cội nguồn văn học quốc tế và truyền thống dân tộc của quan niệm văn nghệ là vũ khí; từ đó minh chứng sự tác động của quan niệm này trên các phương diện cụ thể của thi pháp thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1985: từ mô hình tổ chức nền thơ, hệ thống hình tượng trung tâm, đến sự biến đổi của tư duy nghệ thuật và cấu trúc ngôn ngữ thơ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý luận văn nghệ mác-xít và mỹ học hiện thực xã hội chủ nghĩa làm nền tảng lý thuyết:

  • Quan điểm duy vật lịch sử của C. Mác và Ph. Ăng-ghen xem văn học là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định của tồn tại xã hội và có tác động trở lại đối với đời sống kinh tế, chính trị. Đấu tranh giai cấp được coi là động lực thúc đẩy lịch sử, và bạo lực cách mạng là công cụ tất yếu để thay thế trật tự xã hội cũ.
  • Luận điểm của V. I. Lênin trong tác phẩm Tổ chức của Đảng và văn học có tính Đảng (1905), xác định văn học là một bộ phận trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản, ví như "một cái bánh xe nhỏ và một cái đinh ốc nhỏ" trong bộ máy cách mạng chung do Đảng lãnh đạo; văn học phải mang tính đảng sâu sắc và kiên quyết chống lại khuynh hướng phi đảng, tự do cá nhân tư sản.
  • Quan điểm của M. Gorki khẳng định tính giai cấp tuyệt đối của văn nghệ: "Nhà văn là lỗ tai, là con mắt, là tiếng nói của một giai cấp", đồng thời nhấn mạnh văn học dưới nền chuyên chính vô sản là phương tiện hữu hiệu nhất để giáo dục văn hóa và cải tạo xã hội.
  • Nguồn gốc thực tiễn và lý luận từ văn học cách mạng Trung Quốc: quan niệm truyền thống về chức năng thơ ca của Khổng Tử ("hứng, quan, quần, oán"); quan niệm văn học tả thực xã hội của Trần Độc Tú, Lý Đại Chiêu; thực tiễn sáng tác chiến đấu chống phong kiến của Lỗ Tấn (Nhật kí người điên 1918); tôn chỉ dùng văn chương làm công cụ giải phóng giai cấp của Quách Mạt Nhược, Thành Phương Ngô và Hội Liên minh các nhà văn cánh tả (Tả liên, 1930); đặc biệt là tư tưởng của Mao Trạch Đông trong Bài nói chuyện ở cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An (1942) xác định chiến tuyến văn hóa có vai trò phối hợp ngang hàng với chiến tuyến quân sự nhằm phục vụ mục tiêu chính trị và phục vụ công nông binh.
  • Nguồn gốc truyền thống dân tộc: truyền thống dùng văn chương phục vụ sự nghiệp chống ngoại xâm qua thể loại "Thoái lỗ thi" (thơ đuổi giặc) của Lý Thường Kiệt (Nam quốc sơn hà), tư tưởng "mưu phạt tâm công" của Trần Hưng Đạo (Hịch tướng sĩ), Nguyễn Trãi (Quân trung từ mệnh tập), tinh thần dùng ngòi bút trực tiếp đánh giặc của Nguyễn Đình Chiểu (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc), và thơ ca tuyên truyền của các chí sĩ yêu nước đầu thế kỷ XX.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp bốn phương pháp tiếp cận chuyên ngành văn học:

  1. Phương pháp nghiên cứu lịch sử: được áp dụng để khảo sát sự vận động của quan niệm văn nghệ từ chỗ là một mặt trận đến quan niệm vũ khí chiến đấu xuyên suốt tiến trình văn học cách mạng 1945 – 1985 (triển khai ở Chương 1), cũng như xem xét sự biến đổi của các đặc trưng thể loại và tư duy thơ qua từng chặng đường lịch sử (triển khai ở Chương 3).
  2. Phương pháp nghiên cứu loại hình: được sử dụng để khảo sát các tác phẩm thơ ca, các văn bản lý luận - phê bình thuộc loại hình văn học cách mạng và phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhằm nhận diện những đặc trưng quy phạm của loại hình này (triển khai ở Chương 2 và Chương 3).
  3. Phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp: mổ xẻ các thi phẩm, các hình tượng nghệ thuật cụ thể (hình tượng Tổ quốc, người lính, kẻ thù, nhân dân, Bác Hồ), từ đó tổng hợp, khái quát hóa thành những quy luật chung của cả nền thơ (triển khai ở Chương 2 và Chương 3).
  4. Phương pháp so sánh – đối chiếu: so sánh thơ ca giai đoạn 1945 – 1985 với thơ ca giai đoạn trước 1945 (tiêu biểu là phong trào Thơ mới) và giai đoạn Đổi mới sau 1985; so sánh với các thể loại văn học khác và các dòng thơ ca có lập trường chính trị đối lập để làm rõ tính khu biệt của đối tượng nghiên cứu (triển khai ở Chương 2 và Chương 3).

Nguồn ngữ liệu của luận án bao gồm các tập thơ, bài thơ của các tác giả cách mạng tiêu biểu (Tố Hữu, Sóng Hồng, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Giang Nam...); các văn kiện chính trị, văn bản chỉ thị của Trung ương Đảng; các tài liệu thảo luận, bài phê bình đăng trên Tạp chí Văn học, Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ Quân đội; và các bộ giáo trình giảng dạy lý luận văn học cấp đại học giai đoạn 1960 – 1985.

Nội dung chính theo từng chương

Bản luận án có cấu trúc gồm phần Mở đầu (26 trang), phần Kết luận (03 trang), Thư mục tham khảo (12 trang) và phần Nội dung chính gồm 171 trang được chia thành 03 chương.

Chương 1. Quan niệm văn học là vũ khí cách mạng ở Việt Nam giai đoạn 1945 – 1985

Chương này gồm 51 trang, tập trung làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và sự hình thành quan niệm văn nghệ là vũ khí trong đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tác giả chỉ ra rằng sự ra đời của quan niệm này bắt nguồn sâu xa từ học thuyết Mác - Lênin về hình thái ý thức xã hội và đấu tranh giai cấp. Văn học cách mạng Việt Nam không vận động tự phát mà được định hướng chặt chẽ bởi thiết chế chính trị. Về phương diện tổ chức thực tiễn, Đảng đã tập hợp các văn nghệ sĩ vào các tổ chức thống nhất qua từng thời kỳ: Hội Văn hóa Cứu quốc (thành lập tháng 4/1943), Hội Văn nghệ Việt Nam (thành lập tháng 7/1948 tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất), Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam (thành lập tháng 2/1957 tại Đại hội lần thứ hai) và Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam (thành lập tháng 7/1961). Các tổ chức này hoạt động với mục tiêu đoàn kết lực lượng sáng tác, biến ngòi bút thành vũ khí phục vụ giải phóng dân tộc.

Quan niệm văn hóa là mặt trận và tác phẩm là vũ khí được thể hiện nhất quán qua hai văn kiện trung tâm:

  • Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943) vạch rõ ba nguyên tắc vận động văn hóa (Dân tộc, Khoa học, Đại chúng), đề ra nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng đánh đổ các học thuyết triết học và các khuynh hướng nghệ thuật tư sản (cổ điển, lãng mạn, tự nhiên, tượng trưng), mở đường cho khuynh hướng tả thực xã hội chủ nghĩa (thuật ngữ do Hải Triều giới thiệu lần đầu trên báo chí năm 1937 dưới dạng tiếng Pháp le Réalisme socialiste).
  • Bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948) của Trường Chinh gồm 7 chương, vận dụng phương pháp duy vật biện chứng phân tích lịch sử văn hóa dân tộc, khẳng định văn hóa nghệ thuật phải tham gia vạch trần xã hội thực dân phong kiến, phục vụ trực tiếp quyền lợi của giai cấp công nông và sự nghiệp kháng chiến.

Tính chất vũ khí của văn nghệ tiếp tục được củng cố qua Thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi các kỳ Đại hội Văn nghệ toàn quốc năm 1957, 1962, 1968. Các văn bản chỉ đạo nhất quán yêu cầu giới văn nghệ sĩ phải bồi dưỡng lập trường cách mạng vô sản, khắc phục các nhược điểm như "chủ nghĩa hình thức", "chủ nghĩa tự nhiên" và "chủ nghĩa sơ lược", hòa mình vào thực tiễn đời sống công nông binh để sáng tạo nên những tác phẩm mang tính đảng sâu sắc. Quan niệm này được khẳng định cụ thể qua các ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh (văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa nghệ thuật), Thủ tướng Phạm Văn Đồng (văn học nghệ thuật là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén) và Tổng Bí thư Trường Chinh (văn hóa phục tùng chính trị).

Chương 2. Ảnh hưởng của quan niệm văn học là vũ khí đối với tiến trình vận động của cả nền thơ và hình tượng thơ

Chương này gồm 53 trang, phân tích sự chuyển dịch toàn diện của nền thơ theo định hướng chiến đấu và sự quy tụ của các sáng tác vào một hệ thống hình tượng thẩm mỹ chung.

Về tiến trình nền thơ, quan niệm văn học là vũ khí đã tổ chức đội ngũ sáng tác thành một lực lượng thống nhất, mang tính kỷ luật và tổ chức cao. Sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa được xác định là con đường tối ưu để phản ánh hiện thực cách mạng. Tính chiến đấu trở thành một yêu cầu khách quan, chi phối từ khâu lựa chọn đề tài đến cách thức biểu hiện. Mọi biểu hiện buồn bã, ủy mị, bế tắc cá nhân của phong trào Thơ mới giai đoạn trước đều bị phê phán nghiêm khắc vì bị xem là làm suy yếu ý chí chiến đấu của quần chúng.

Ảnh hưởng trực tiếp của quan niệm này thể hiện rõ nét qua sáu hình tượng nghệ thuật chung của toàn bộ nền thơ:

  1. Hình tượng Tổ quốc: được tập trung miêu tả qua chiều kích lịch sử và truyền thống chống ngoại xâm kiên cường, gắn liền với các mốc chiến công và sự trường tồn của dân tộc qua bom đạn hủy diệt.
  2. Hình tượng người chiến sĩ quân đội: được khắc họa với phẩm chất dũng cảm, tinh thần hy sinh quên mình vì độc lập tự do, mang ý chí kiên định và niềm tin tất thắng vào lý tưởng của Đảng.
  3. Hình tượng bộ mặt kẻ thù: đối tượng tác chiến của vũ khí thơ ca được miêu tả trực diện bằng bút pháp phơi bày bản chất xâm lược, phi nghĩa, tàn bạo của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cùng các lực lượng tay sai.
  4. Khát vọng đánh địch trực tiếp: tính chất vũ khí thể hiện thành các khẩu khí chiến đấu, lời thề quyết tử, lời thúc giục hành động quân sự được diễn đạt công khai, trực diện trong thi phẩm.
  5. Hình tượng nhân dân anh hùng: quần chúng công nhân, nông dân, các bà mẹ, thanh niên xung phong được miêu tả gắn liền với sự chịu đựng gian lao, bảo đảm hậu phương vững chắc phục vụ tiền tuyến.
  6. Hình tượng Bác Hồ vĩ đại: được soi chiếu chủ yếu từ vai trò vị lãnh tụ tối cao lãnh đạo cuộc kháng chiến, người dẫn đường cho cách mạng và biểu tượng mẫu mực của đức hy sinh vì dân tộc.

Chương 3. Ảnh hưởng của quan niệm văn học là vũ khí đến tư duy nghệ thuật và ngôn ngữ thơ

Chương này gồm 67 trang, khảo sát những biến chuyển sâu sắc trong cấu trúc thể loại, phương thức cảm thụ và đặc trưng ngôn ngữ của thơ ca cách mạng.

Thứ nhất, sự phát triển mạnh mẽ của yếu tố trào phúng và đả kích trong thơ. Luận án chỉ ra sự dịch chuyển từ tiếng cười trào lộng mang tính đạo đức nhân văn truyền thống sang tiếng cười đả kích chính trị trực diện. Thơ trào phúng, đả kích trở thành một mũi giáp công sắc bén, nhắm thẳng vào các nhân vật chính trị đối lập, vạch trần các âm mưu quân sự và chính sách của đối phương.

Thứ hai, tư duy thơ chuyển dịch mạnh mẽ sang khuynh hướng duy lý. Cảm xúc thẩm mỹ trong thơ chịu sự chi phối chặt chẽ của nhận thức lý trí và định hướng tư tưởng. Các biểu hiện cụ thể gồm:

  • Tình cảm cộng đồng lấn át tình cảm cá nhân: "cái ta" tập thể, ý chí giai cấp và dân tộc thay thế hoàn toàn vị trí trung tâm của "cái tôi" cá nhân riêng tư. Những rung động cá nhân nếu có cũng phải hòa nhập và phục vụ mục tiêu chung của cộng đồng.
  • Hiện thực lịch sử lấn át hiện thực tâm trạng: diễn biến của các sự kiện chính trị, các chiến dịch quân sự, các cao trào sản xuất trở thành khung cốt lõi của bài thơ, đẩy yếu tố tự sự lên chiếm ưu thế so với tính chất trữ tình thuần túy.

Thứ ba, sự biến đổi của hệ thống ngôn ngữ thơ:

  • Ngôn ngữ mang đậm tính chính luận: sử dụng trực tiếp các khái niệm chính trị, thuật ngữ giai cấp, triết học và các mệnh đề lý luận làm chất liệu cấu tạo câu thơ.
  • Ngôn ngữ kêu gọi và đối thoại: các cấu trúc câu mệnh lệnh, hô ngữ, lời hiệu triệu, chất vấn kẻ thù và đối thoại với quần chúng xuất hiện với tần suất cao.
  • Sự gia tăng của yếu tố khẩu ngữ và trữ tình điệu nói: thơ tiếp nhận trực tiếp ngôn ngữ sinh hoạt của bộ đội, dân quân, công nhân tại trận địa và công trường, tạo nên phong cách diễn đạt mộc mạc, gần gũi với quần chúng nhằm phục vụ mục đích tuyên truyền và cổ động chiến đấu.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tổng kết và làm sáng tỏ các giá trị cốt lõi sau:

  • Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên tiếp cận toàn diện và hệ thống quan niệm văn học là vũ khí cách mạng trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1985. Công trình khẳng định đây không phải là một hiện tượng tự phát mà là một thuộc tính mang tính tự giác, một thiết chế văn học đặc thù chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản, vận hành theo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa.
  • Luận án chứng minh một cách tường minh nguồn gốc lý luận của quan niệm này từ mỹ học mác-xít quốc tế (Lênin, Gorki), kinh nghiệm văn hóa cách mạng Trung Quốc (tư tưởng Diên An của Mao Trạch Đông, Hội Tả liên) kết hợp với truyền thống "mưu phạt tâm công" và thơ đánh giặc trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
  • Luận án chỉ ra ảnh hưởng mang tính chi phối của quan niệm vũ khí đối với sự vận động của cả nền thơ: tổ chức lực lượng sáng tác thành đội ngũ mang phẩm chất chiến sĩ; quy định hiện thực cách mạng là đối tượng phản ánh tối ưu; và xác lập hệ thống hình tượng thẩm mỹ chung mang tính sử thi gồm Tổ quốc, người chiến sĩ, kẻ thù, nhân dân và lãnh tụ.
  • Luận án phát hiện và phân tích các biến đổi đặc thù trong thi pháp thơ: sự chuyển hướng của yếu tố trào phúng sang chức năng đả kích chính trị; sự chi phối của tư duy duy lý dẫn đến việc tình cảm cộng đồng ("cái ta") lấn át tình cảm cá nhân ("cái tôi"), hiện thực lịch sử và tính tự sự lấn át hiện thực tâm trạng và tính trữ tình; cùng sự định hình của phong cách ngôn ngữ chính luận, hô ứng và trữ tình điệu nói.
  • Luận án đánh giá khách quan thành tựu của thơ ca giai đoạn này trong việc động viên sức mạnh toàn dân chiến thắng ngoại xâm, đồng thời chỉ ra giới hạn lịch sử không thể tránh khỏi do việc nhấn mạnh tuyệt đối chức năng vũ khí dẫn tới sự giản đơn, công thức hóa trong nội dung và việc một số giá trị cá nhân, nhân bản bị thu hẹp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn tư liệu và khung thời gian lịch sử, luận án chủ yếu tập trung khảo sát mảng thơ ca cách mạng xuất bản công khai trong nước. Các thể loại thơ trào phúng, đả kích chỉ được phân tích ở mức độ phối hợp, chưa khảo sát sâu toàn diện như thơ trữ tình. Mảng thơ ca của các khuynh hướng đối lập hoặc thơ ca hải ngoại mới chỉ được tác giả đề cập sơ lược ở dạng đối chiếu bước đầu để làm nổi bật tính chất vũ khí từ hai phía đối kháng mà chưa có điều kiện khảo sát thành một hệ thống tư liệu đầy đủ.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở việc mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các thể loại văn xuôi cách mạng (truyện ngắn, tiểu thuyết, ký) và kịch bản sân khấu giai đoạn 1945 – 1985 nhằm đánh giá toàn diện mức độ chi phối của quan niệm văn nghệ là vũ khí trên toàn bộ nền văn học. Đồng thời, có thể triển khai các đề tài so sánh sâu hơn giữa văn học Việt Nam giai đoạn này với các nền văn học thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây (Liên Xô, Trung Quốc, các nước Đông Âu, Cuba) để xác định rõ hơn các quy luật vận động mang tính phổ quát và đặc thù.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử văn học và lý luận văn nghệ có giá trị tham khảo cụ thể cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên đại học thuộc các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Lịch sử văn hóa: sử dụng làm tài liệu tra cứu có hệ thống về đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1943 đến năm 1985; tham khảo bức tranh tổng thể về các cuộc tranh luận văn học và diễn biến tư tưởng trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Văn học và Tạp chí Nghiên cứu Văn học.
  • Các nhà nghiên cứu thi pháp học: tham khảo Chương 2 và Chương 3 để nghiên cứu sâu về quá trình chuyển dịch hình tượng nghệ thuật, sự biến đổi cấu trúc thể loại trữ tình, và đặc điểm ngôn ngữ chính luận trong thơ ca thời kỳ chiến tranh.
  • Các cơ quan quản lý văn hóa và cán bộ hoạch định chính sách tư tưởng: tham khảo luận án để nhận diện rõ quy luật quan hệ giữa văn học nghệ thuật và chính trị qua các bước ngoặt lịch sử, từ đó rút ra các bài học thực tiễn trong công tác quản lý và định hướng phát triển văn hóa nghệ thuật thời kỳ hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Quan niệm văn nghệ là vũ khí cách mạng trong luận án được xác định bắt nguồn từ những cơ sở lý luận và thực tiễn quốc tế nào?

Quan niệm này có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ mỹ học Mác - Lênin, đặc biệt là quan điểm của V. I. Lênin trong bài viết Tổ chức của Đảng và văn học có tính Đảng (1905) coi văn học là bộ phận trong cỗ máy cách mạng chung, và quan điểm của M. Gorki xem nhà văn là tiếng nói của giai cấp. Về thực tiễn quốc tế, quan niệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ văn học Công xã Paris (1871), nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Liên Xô, và đặc biệt là đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc qua phong trào Tả liên (1930) cùng quan điểm văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ công nông binh của Mao Trạch Đông tại cuộc tọa đàm Diên An năm 1942.

2. Những văn kiện nào của Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò xác lập nền tảng cho quan niệm văn học là vũ khí?

Hai văn bản nền tảng đầu tiên là Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943) do Trường Chinh khởi thảo, đề ra nguyên tắc văn hóa là mặt trận và định hướng cho phương pháp tả thực xã hội chủ nghĩa; và báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948) của Trường Chinh, khẳng định tính giai cấp của văn hóa và vũ khí văn nghệ có tác dụng động viên quần chúng làm cách mạng. Tiếp đó là hệ thống Thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi các kỳ Đại hội Văn nghệ toàn quốc năm 1957 (lần II), năm 1962 (lần III) và năm 1968 (lần IV), liên tục chỉ đạo xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ - chiến sĩ mang tính đảng vững vàng.

3. Quan niệm văn học là vũ khí đã quy định những hình tượng trung tâm nào của nền thơ giai đoạn 1945 – 1985?

Luận án chỉ ra sáu hình tượng nghệ thuật chung chi phối nền thơ: hình tượng Tổ quốc gắn với truyền thống chống ngoại xâm; hình tượng người chiến sĩ quân đội dũng cảm, quên mình; hình tượng kẻ thù xâm lược bị lột trần bản chất phi nghĩa; khát vọng đánh địch trực tiếp thể hiện qua khẩu khí chiến đấu; hình tượng nhân dân anh hùng chịu đựng gian khổ phục vụ tiền tuyến; và hình tượng Bác Hồ vĩ đại được soi chiếu từ vai trò lãnh đạo kháng chiến và đức hy sinh.

4. Dưới ảnh hưởng của quan niệm vũ khí, tư duy nghệ thuật và ngôn ngữ thơ ca có những biến đổi đặc thù gì?

Về tư duy nghệ thuật, thơ ca mang nặng tính duy lý: cảm xúc chịu sự dẫn dắt của nhận thức chính trị, tình cảm cộng đồng ("cái ta") lấn át tình cảm cá nhân ("cái tôi"), hiện thực lịch sử và tính tự sự lấn át hiện thực tâm trạng và tính trữ tình. Về ngôn ngữ, thơ mang đậm tính chính luận, sử dụng nhiều cấu trúc kêu gọi, mệnh lệnh, đối thoại trực tiếp, đồng thời tiếp thu khẩu ngữ và điệu nói sinh hoạt của đời sống chiến đấu.

5. Luận án ghi nhận thái độ của giới phê bình giai đoạn này đối với các tác phẩm bị đánh giá là suy giảm tính chiến đấu như thế nào?

Văn bản luận án nêu rõ các tác phẩm thể hiện nỗi buồn nản, bi lụy cá nhân đều bị phê phán vì bị xem là "đồng minh của giặc". Điển hình là việc đánh giá khắt khe đối với dư âm Thơ mới trong các bài thơ kháng chiến như Tây Tiến (Quang Dũng), Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Ngày về (Chính Hữu), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm); cuộc đấu tranh chống phong trào Nhân văn - Giai phẩm; và các cuộc phê phán đối với các tác phẩm về sau như Vào đời, Đi bước nữa, Cửa mở, Vòng trắng, Sẹo đất, cũng như các quan điểm học thuật của Lê Đình Kỵ và Hoàng Ngọc Hiến.

Kết luận

Luận án Quan niệm văn học là vũ khí cách mạng và ảnh hưởng của nó đối với thơ 1945-1985 của tác giả Trần Thị Minh Giới đã khảo cứu một cách toàn diện và có hệ thống một thuộc tính bản chất, xuyên suốt của nền văn học cách mạng Việt Nam. Công trình đã chứng minh nguồn gốc lý luận mác-xít và thực tiễn lịch sử đã định hình mô hình tổ chức nền thơ, hệ thống hình tượng thẩm mỹ cũng như sự chuyển đổi sâu sắc trong tư duy duy lý và ngôn ngữ chính luận của thơ ca giai đoạn này. Bản luận án là nguồn tư liệu khoa học có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử văn học Việt Nam và thi pháp học thời kỳ kháng chiến.