Luận Án Tiến Sĩ: Quan Niệm Văn Học Là Vũ Khí Cách Mạng Và Ảnh Hưởng Đến Thơ 1945-1985

Luận án tiến sĩ nghiên cứu quan niệm văn học là vũ khí cách mạng và ảnh hưởng của nó đối với thơ 1945 1985, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2011

209
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

0.2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

0.3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

0.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

0.6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

1. CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VĂN HỌC LÀ VŨ KHÍ CÁCH MẠNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1985

1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN NIỆM VĂN HỌC NGHỆ THUẬT LÀ VŨ KHÍ

1.1.1. Cơ sở thực tiễn

1.2. QUAN ĐIỂM VĂN HÓA NGHỆ THUẬT LÀ MỘT MẶT TRẬN, TÁC PHẨM VĂN NGHỆ LÀ VŨ KHÍ TRONG CÁC TÀI LIỆU, VĂN KIỆN CỦA ĐẢNG

1.2.1. Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948)

1.2.2. Thƣ của Ban Chấp hành T. Đảng gửi các kì Đại hội Văn nghệ

1.3. Ý KIẾN CỦA CÁC VỊ LÃNH ĐẠO VÀ CÁC NHÀ LÝ LUẬN VĂN NGHỆ KHẲNG ĐỊNH TÍNH CHẤT VŨ KHÍ CỦA VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT

1.3.1. Quan niệm VH-NT là một mặt trận của Chủ tịch Hồ Chí Minh

1.3.2. Quan niệm VH-NT phục vụ chính trị của Trƣờng Chinh

1.3.3. Phạm Văn Đồng với quan niệm “VH-NT là một thứ vũ khí tƣ tƣởng rất sắc bén”

1.3.4. Ý kiến của một số nhà lí luận mĩ học Mác-xít

1.3.5. Từ quan niệm văn hóa văn nghệ là mặt trận, là vũ khí đến quan niệm vũ khí thơ

2. CHƯƠNG 2: ẢNH HƢỞNG CỦA QUAN NIỆM VĂN HỌC LÀ VŨ KHÍ ĐỐI VỚI TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA CẢ NỀN THƠ VÀ HÌNH TƢỢNG THƠ

2.1. NỀN THƠ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN THEO ĐỊNH HƢỚNG CHIẾN ĐẤU

2.1.1. Lực lƣợng sáng tác đƣợc tổ chức thành một đội ngũ

2.1.2. Tính chiến đấu là một yêu cầu khách quan đối với văn học nói chung và thơ ca nói riêng

2.1.3. Phƣơng pháp sáng tác Hiện thực xã hội chủ nghĩa là phƣơng pháp sáng tác tối ƣu của văn học cách mạng

2.1.4. Hiện thực cách mạng là nội dung phản ánh của thơ

2.2. NHỮNG HÌNH TƢỢNG CHUNG CỦA CẢ NỀN THƠ

2.2.1. Hình tƣợng Tổ quốc thiên về truyền thống chống ngoại xâm

2.2.2. Ngƣời chiến sĩ quân đội dũng cảm và quên mình

2.2.3. Bộ mặt kẻ thù

2.2.4. Khát vọng đánh địch trực tiếp thể hiện qua các bài thơ

2.2.5. Hình tƣợng nhân dân anh hùng

2.2.6. Hình tƣợng Bác Hồ vĩ đại từ góc độ chiến đấu và đức hi sinh

2.3. ẢNH HƢỞNG CỦA QUAN NIỆM VĂN HỌC LÀ VŨ KHÍ ĐẾN TƢ DUY NGHỆ THUẬT VÀ NGÔN NGỮ THƠ

2.3.1. SỰ PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ CỦA YẾU TỐ TRÀO PHÚNG VÀ ĐẢ KÍCH TRONG THƠ TRỮ TÌNH CÁCH MẠNG

2.3.1.1. Yếu tố trào phúng và đả kích trong thơ truyền thống
2.3.1.2. Từ trào lộng sang đả kích, từ đạo đức nhân văn, văn chƣơng chuyển hƣớng sang chính trị, xã hội

2.3.2. TƢ DUY THƠ THIÊN VỀ LÍ TRÍ HAY LÀ YẾU TỐ DUY LÍ TRONG THƠ CÁCH MẠNG

2.3.2.1. Cảm xúc và lí trí trong tƣ duy thơ
2.3.2.2. Yếu tố duy lí trong thơ cách mạng
2.3.2.3. Tình cảm cộng đồng lấn át tình cảm cá nhân, cái ta lấn át cái tôi
2.3.2.4. Hiện thực lịch sử lấn át hiện thực tâm trạng, tự sự lấn át trữ tình

2.3.3. NGÔN NGỮ THƠ

2.3.3.1. Ngôn ngữ thơ giàu tính chính luận
2.3.3.2. Kêu gọi và đối thoại trong thơ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về văn học cách mạng và ảnh hưởng đến thơ Việt Nam 1945 1985

Văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1985 là một phần không thể thiếu trong lịch sử văn học nước nhà. Giai đoạn này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của thơ ca, phản ánh cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do của dân tộc. Các tác phẩm thơ ca không chỉ mang tính nghệ thuật mà còn là vũ khí tinh thần, góp phần khơi dậy lòng yêu nước và ý chí chiến đấu của nhân dân. Những nhà thơ nổi tiếng như Chế Lan Viên, Xuân Diệu đã thể hiện rõ nét tinh thần này trong tác phẩm của họ.

1.1. Đặc điểm của văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 1985

Văn học cách mạng trong giai đoạn này mang đậm tính chính trị và tư tưởng. Các tác phẩm thường phản ánh hiện thực xã hội, thể hiện tinh thần yêu nước và khát vọng tự do. Tính giai cấp và tính đảng được coi là đặc trưng nổi bật, tạo nên sức mạnh cho các tác phẩm thơ ca.

1.2. Vai trò của thơ ca trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ

Thơ ca không chỉ là phương tiện truyền tải thông điệp mà còn là vũ khí tinh thần trong cuộc kháng chiến. Những bài thơ như 'Nhật ký trong tù' của Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng cho tinh thần kiên cường và bất khuất của dân tộc. Thơ ca đã góp phần động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân trong những năm tháng khó khăn.

II. Những thách thức đối với văn học cách mạng trong giai đoạn 1945 1985

Mặc dù văn học cách mạng phát triển mạnh mẽ, nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Sự kiểm soát chặt chẽ từ phía chính quyền và các tổ chức văn nghệ đã tạo ra áp lực lớn đối với các nhà thơ. Họ phải cân nhắc giữa việc thể hiện tiếng nói cá nhân và tuân thủ các quy định của Đảng.

2.1. Sự kiểm soát và định hướng của Đảng đối với văn học

Đảng Cộng sản đã đặt ra nhiều quy định về nội dung và hình thức của các tác phẩm văn học. Điều này dẫn đến việc nhiều nhà thơ phải điều chỉnh tác phẩm của mình để phù hợp với yêu cầu chính trị, đôi khi làm giảm đi tính sáng tạo và tự do nghệ thuật.

2.2. Tác động của chiến tranh đến nội dung thơ ca

Chiến tranh đã ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung và hình thức của thơ ca. Nhiều tác phẩm thơ ca mang tính chất chiến đấu, thể hiện sự hy sinh và lòng yêu nước. Tuy nhiên, cũng có những tác phẩm phản ánh nỗi đau và mất mát, tạo nên một bức tranh đa dạng về cảm xúc trong thơ ca thời kỳ này.

III. Phương pháp sáng tác và thi pháp trong thơ cách mạng 1945 1985

Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa đã trở thành phương pháp chủ đạo trong thơ ca cách mạng. Các nhà thơ đã sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh mạnh mẽ để truyền tải thông điệp chính trị và xã hội. Thi pháp này không chỉ giúp thể hiện nội dung mà còn tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm.

3.1. Ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ cách mạng

Ngôn ngữ thơ ca trong giai đoạn này thường mang tính chính luận, thể hiện rõ ràng quan điểm chính trị. Hình ảnh trong thơ thường gắn liền với các biểu tượng của cuộc kháng chiến, như hình ảnh người chiến sĩ, Tổ quốc, và kẻ thù.

3.2. Tính chiến đấu và tinh thần lạc quan trong thơ

Tính chiến đấu là một yêu cầu khách quan đối với thơ ca cách mạng. Nhiều tác phẩm thể hiện tinh thần lạc quan, khát vọng chiến thắng, tạo động lực cho nhân dân trong cuộc kháng chiến. Những bài thơ như 'Đất nước' của Nguyễn Đình Thi đã thể hiện rõ nét tinh thần này.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về thơ cách mạng

Nghiên cứu về thơ cách mạng giai đoạn 1945-1985 không chỉ giúp hiểu rõ hơn về văn học Việt Nam mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về lịch sử và văn hóa dân tộc. Những tác phẩm thơ ca đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc và trở thành tài sản văn hóa quý giá.

4.1. Những tác phẩm tiêu biểu và ảnh hưởng của chúng

Nhiều tác phẩm thơ ca đã trở thành biểu tượng cho tinh thần yêu nước và khát vọng tự do. Những bài thơ như 'Tây Tiến' của Quang Dũng hay 'Đồng chí' của Chính Hữu đã ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc và trở thành tài sản văn hóa quý giá.

4.2. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới

Nghiên cứu về thơ cách mạng đã chỉ ra những đặc trưng nổi bật của thơ ca giai đoạn này, từ nội dung đến hình thức. Những đóng góp mới trong nghiên cứu sẽ giúp làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam và khẳng định giá trị của văn học cách mạng.

V. Kết luận và tương lai của văn học cách mạng Việt Nam

Văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1985 đã để lại những bài học quý giá cho các thế hệ sau. Tương lai của văn học cách mạng cần tiếp tục được nghiên cứu và phát triển, nhằm khẳng định giá trị và vai trò của nó trong đời sống văn hóa xã hội hiện đại.

5.1. Những bài học từ văn học cách mạng

Những bài học từ văn học cách mạng không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa trong việc định hướng cho các thế hệ nhà văn trẻ. Việc hiểu rõ về quá khứ sẽ giúp xây dựng một nền văn học hiện đại và phong phú hơn.

5.2. Tương lai của văn học cách mạng trong bối cảnh hiện đại

Trong bối cảnh hiện đại, văn học cách mạng cần được tiếp tục phát triển và đổi mới. Các nhà văn cần tìm kiếm những cách tiếp cận mới để thể hiện tinh thần yêu nước và khát vọng tự do, đồng thời phản ánh những vấn đề xã hội đương đại.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ quan niệm văn học là vũ khí cách mạng và ảnh hưởng của nó đối với thơ 1945 1985

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho phong trào văn học Ngũ Tứ” [43, tr.1420] dù phải đợi đến 1919 phong trào mới có nội dung cụ thể và mang màu sắc cách mạng. Tuy vậy, người được coi là tác giả mác-xít đầu tiên của Trung Quốc lại là Lý Đại Chiêu. Trong bài Văn học mới là gì, ông đã khẳng định: “Văn học mới phải là một nền “văn học tả thực xã hội”, một nền văn học chịu sự chỉ đạo của “chủ nghĩa kiên tín (chủ nghĩa Mác- Lênin)”, phải chống những “nọc độc cũ” của phong kiến và những “nọc độc mới” của tư sản…” [43, tr. Tác giả tiêu biểu cho thực tiễn sáng tác kiểu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này là Lỗ Tấn.

Lỗ Tấn chính là người thầy của văn học vô sản Trung Quốc. “Tháng Năm năm 1918, truyện ngắn Nhật kí ngƣời điên của Lỗ Tấn đăng trên Tân thanh niên đã phun một ngọn lửa cháy rực chưa từng có vào chế độ phong kiến ăn thịt người hàng mấy ngàn năm nay. Đây là một bài hịch chiến đấu triệt để chống phong kiến kịp thời đáp ứng yêu cầu của thời đại” (Đường Thao, 126, tr. Như vậy, về phương diện thực tiễn, văn học cách mạng là sản phẩm đồng thời của các cuộc cách mạng.

Đặc biệt là trong thời kì đấu tranh chống chế độ thực dân, phong kiến dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, văn học càng tỏ rõ tính chất vũ khí của mình, góp phần vào thắng lợi của cách mạng. Văn học cách mạng Việt Nam vừa là hệ quả trực tiếp của phong trào cách mạng Việt Nam vừa là hệ quả gián tiếp của văn học cách mạng thế giới. Cũng như nền văn học cách mạng Trung Quốc đã tiếp thu những ảnh hưởng của nền văn học Nga – Xô-viết, Văn học cách mạng Việt Nam đã tiếp thu ảnh hưởng của các nền văn học cách mạng thế giới, mà chủ yếu là văn học Nga – Xô viết và văn học cách mạng Trung Quốc. Cách đây trên chín chục năm, các nhà văn Trung Quốc đã thừa nhận việc nghiên cứu văn học Nga ở Trung Quốc đã trở nên sôi nổi từ sau Cách mạng tháng Mười.

“Trung Quốc đang có quyết tâm đi theo con đường Cách mạng tháng Mười. Đây là một hiện tượng đặc biệt trong thời kì Ngũ Tứ mà trước đó không có. Giới văn học tiến bộ Trung Quốc lúc đầu thường nhìn về phương Tây, sau đó quay sang chăm chú nhìn vào nước Nga và Liên Xô, chứng tỏ cuộc cách mạng văn học đã phát sinh những biến đổi về chất” (126, tr. Từ sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời, ý thức về văn học là vũ khí cách mạng lại càng được đề cao hơn.

Năm 1926, Quách Mạt Nhược viết bài Cách mạng và văn học “chủ trương rằng văn học phải có mục đích giải phóng dân tộc, giải phóng kinh tế, diệt trừ chủ nghĩa tự do cá nhân, thủ tiêu khuynh hướng lãng mạn. Ông hô hào thanh niên đi vào bộ đội, nông thôn, công trường mà tả thực theo tinh thần xã hội chủ nghĩa, và biểu đồng tình với giai cấp vô sản” (67, tr. Cùng quan điểm với Quách Mạt Nhược, Thành Phương Ngô đã viết bài Từ cách mạng văn học tới văn học cách mạng, nhấn mạnh ý nghĩa thiết thực của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc sử dụng văn học như một lợi khí để tuyên truyền cách mạng, dùng văn học để làm cách mạng xã hội. Tháng Ba năm 1930, Hội Liên minh các nhà văn cánh tả (gọi tắt là Tả liên) được thành lập, dưới sự lãnh đạo của Lỗ Tấn và Mao Thuẫn, sau thêm Quách Mạt Nhược.

Cương lĩnh của Tả liên có đoạn viết: “Nghệ thuật của chúng ta phản đối giai cấp phong kiến, phản đối giai cấp tƣ sản và phản đối khuynh hƣớng của giai cấp tiểu tƣ sản đã mất địa vị xã hội. Chúng ta không thể không giúp đỡ mà còn phải làm cho nghệ thuật của giai cấp vô sản nảy sinh…Thái độ của chúng ta đối với xã hội hiện thực là không thể không tham gia phong trào giải phóng của giai cấp vô sản thế giới;đấu tranh chống lại các thế lực phản động quốc tế chống lại giai cấp vô sản…” (67, tr. Trong hai năm đầu, Hội đã xuất bản gần mười tạp chí về nhiều lĩnh vực văn hóa khác nhau: Thế giới văn hóa, Manh nha, Bắc đẩu, Hiện đại tiểu thuyết, Đại chúng văn nghệ, Văn nghệ tân văn, Văn học nguyệt san…Từ năm 1931, Hội Tả liên có Cù Thu Bạch tham gia lãnh đạo. Cù Thu Bạch là một người được đào tạo ở Nga sau Cách mạng tháng Mười (từ 1920 đến 1923), thấm nhuần tinh thần vận động quần chúng, nên đã ủng hộ chủ trương văn nghệ đại chúng.

Có thể nói, Hội Tả liên đã thực sự có công trong việc tuyên truyền sử dụng tiếng Hán hiện đại vào trong sáng tác văn học nhờ phương châm đại chúng hóa. Đầu năm 1934, Cù Thu Bạch đến khu căn cứ. “Ông đảm nhiệm chức vụ Ủy viên giáo dục nhân dân, kiêm nhiệm công tác của cục nghệ thuật. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Cù Thu Bạch, “Pháp quy giáo dục Xô viết đã được ban hành, trong đó bao gồm các chương Công nông kịch xã, Trƣờng nghệ thuật Gorki, Luật tổ chức kịch đoàn Xô viết, Cƣơng yếu về câu lạc bộ v.

Văn bản quy định phương châm nhiệm vụ của các tổ chức, nhờ vậy văn nghệ khu căn cứ càng có tổ chức, có tính cách mạng, tính quần chúng hơn.457) Hội Tả liên giải thể vào mùa xuân năm 1936, thì vào năm 1938, Hội Trung Hoa toàn quốc văn nghệ giới kháng địch được thành lập, Lão Xá làm Chủ tịch, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn, Ba Kim cùng phụ trách. Cơ quan ngôn luận của Hội là tạp chí Kháng chiến văn nghệ. Tuyên ngôn của hội ghi: “Cần thiết thực đi vào nhân dân, cần ra mặt trận để phát động quần chúng, động viên 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com binh sĩ, lực lượng văn nghệ phải hòa với tiếng súng, nhất tề đánh vào lưng quân thù”. Ngoài tờ Kháng chiến văn nghệ, còn có tờ Văn nghệ trận địa xuất bản ở Hán Khẩu rồi ở Quảng Đông, Trùng Khánh năm 1938; tờ Đại chúng văn nghệ xuất bản ở Diên An.

Trong số các nhà văn tham gia các hội văn hóa, văn nghệ lúc bấy giờ không phải thuần nhất chỉ có những người tả khuynh, những người cộng sản, mà còn có một số người hữu khuynh hay theo chính quyền Tưởng Giới Thạch, nhưng đều có chung một mục đich đánh Nhật, giải phóng đất nước (thời kì Quốc – Cộng hợp tác). Do vậy, cũng có những người không muốn gắn văn nghệ với kháng chiến. Chẳng hạn như Lương Thực Thu, Chu Quang Tiềm … cho rằng văn nghệ phải thoát ra khỏi biến cố của thời đại, biệt lập với các hoạt động khác. Họ không phải là kẻ phản quốc, mà họ chủ trƣơng nghệ thuật vị nghệ thuật.

Chẳng hạn, Lương Thực Thu, một biên tập viên của tờ Trung ƣơng nhật báo của chính quyền Tưởng Giới Thạch cho rằng “văn nghệ không liên quan đến kháng chiến”, Chu Quang Tiềm – một nhà phê bình khác – nói rằng văn học phải siêu thoát, nhà văn phải lãnh đạm với thời cuộc, thoát li chính trị. Chúng tôi muốn dẫn ra đây các quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa văn học và chính trị có nguồn gốc từ ngoài Việt Nam, mà trực tiếp là từ Trung Quốc và sau này các quan niệm đó đều có ảnh hưởng đến văn học Việt Nam. Năm 1938, trong một bài diễn văn nhan đề: Địa vị của Đảng Cộng sản Trung Hoa trong cuộc dân tộc kháng chiến, Mao Trạch Đông đã nêu vấn đề phục vụ công nông binh lên thành một phương hướng, một phương châm. Có thể nói đó là cái nhân, cái hạt của nhiều vấn đề lí luận khác, và là hệ quả của quan niệm văn nghệ phục tùng chính trị mà về sau, những người mác-xít Việt Nam thường nhắc đi nhắc lại.

Tháng Năm năm 1942, Mao Trạch Đông đã có một bài phát biểu quan trọng tại hội nghị văn nghệ Diên An. Bài nói chuyện ở cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An của Mao Trạch Đông sau đó đã được phổ biến trong hàng ngũ những nhà văn nghệ cách mạng Trung Quốc như một văn kiện cực kì quan trọng, có ý nghĩa cương lĩnh, nguyên lí cho mọi hoạt động văn học cách mạng Trung Quốc về sau. Nội dung quan trọng nhất của bài viết này chính là quan niệm văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ đại chúng, phục vụ công nông binh. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tinh thần của Bài nói chuyện.

là coi văn hóa cũng là một “chiến tuyến”, chiến tuyến này quan trọng không kém chiến tuyến quân sự. “Trong cuộc đấu tranh của chúng ta để giải phóng nhân dân Trung Quốc, có nhiều loại chiến tuyến, nhưng trong đó cũng có thể nói chỉ có hai chiến tuyến là văn và võ, đây chính là chiến tuyến văn hóa và chiến tuyến quân sự. Chúng ta chiến thắng kẻ thù, trước hết là dựa vào quân đội có súng trong tay. Nhưng chỉ có quân đội loại này không đủ, chúng ta cần có quân đội văn hóa, đây là cánh quân đoàn kết, chiến thắng kẻ thù không thể thiếu được”.

Như vậy, Mao Trạch Đông đã đánh giá rất cao vai trò của văn hóa trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc. Ông cho rằng chiến tuyến văn hóa có tầm quan trọng ngang hàng với chiến tuyến quân sự. Trong một bài viết khác về sau, có tên là Phê phán tƣ tƣởng phản động của Lƣơng Thấu Minh (1953), ông nói cụ thể hơn: “Giết người có hai loại, một loại là dùng súng giết người, một loại là dùng bút giết người. Nhưng che đậy khéo léo nhất, giết người không thấy máu, là dùng bút giết người” (theo 118, tr.

Tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông đã có ảnh hưởng nhất định đến quan điểm văn nghệ cách mạng Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Quan điểm văn nghệ phục vụ chính trị, quan điểm văn nghệ phục vụ cách mạng, phục vụ công nông binh đã thâm nhập vào Việt Nam từ những năm 1940 theo tinh thần văn nghệ phục vụ kháng chiến. Và tư tưởng văn nghệ đó đã được vận dụng đến cả giai đoạn chống Mĩ. Quan niệm văn học là vũ khí cách mạng có một cội nguồn thứ hai, rất quan trọng, là từ nền văn học Nga – Xô viết, nền văn học vô sản lớn nhất trên thế giới lúc bấy giờ.

Từ năm 1930 – 1931, một phong trào cách mạng rầm rộ có tên là Xô viết Nghệ Tĩnh đã nổ ra ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ