Chương 1: Tổng quan về quần thể văn hoá vùng ven Hồ Tây Chương 2: Văn học dân gian vùng ven Hồ Tây Chương 3: Vai trò của văn học dân gian và văn hoá dân gian vùng ven Hồ Tây đối với du lịch văn hoá Phần kết luận Phụ lục Tài liệu tham khảo 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẦN THỂ VĂN HOÁ VÙNG VEN HỒ TÂY Hồ Tây cổ kính, huyền thoại, Hồ Tây sang trọng, kiêu sa mà vẫn trẻ trung, hiện đại được nhìn nhận trong một thể của văn hoá đa dạng, nhiều màu sắc. Tên gọi Trong quá trình hình thành và phát triển, Hồ Tây đã trải qua nhiều lần đổi tên, mỗi tên gọi khi ra đời đều gắn liền với các truyện kể được thêu dệt từ trí tưởng tượng của dân gian. Khởi thuỷ, Hồ Tây có tên gọi là đầm Xác Cáo gắn liền với sự tích về con cáo chín đuôi. Trước đây, khu vực này vốn là một vùng đất cao, từng là hang của con cáo chín đuôi sống hơn ngàn năm tuổi, chuyên quấy nhiễu dân lành; Long Quân bèn dâng nước để bắt cáo và nơi này sau đó trở thành một vũng nước sâu mà dân gian gọi là đầm Xác Cáo.
Sự ra đời của tên gọi đầm Xác Cáo gắn liền với sự hình thành nên Hồ Tây trong tiềm thức dân gian, bởi vậy, tên gọi này chính là dấu mốc đầu tiên và nguyên thuỷ nhất của Hồ Tây. Mỗi một sự vật, mỗi một hiện tượng đều được dân gian cố gắng lí giải và hiện thực hoá, thể hiện tư duy dân gian, phản ánh được dấu vết thời đại. Vào “kỷ Trưng Nữ Vương bắt đầu từ năm Canh Tí đến năm Nhâm Dần (40 – 42)” [19, tr. 72], Hồ Tây có tên gọi Lãng Bạc với ý nghĩa là hồ đầy sóng vỗ, một khung cảnh hoành tráng mà cũng rất nên thơ.
Tương truyền, tên Lãng Bạc là do tướng Mã Viện (là tướng đem theo quân từ biển vào, san núi làm đường, chấm dứt kỷ Trưng Nữ Vương kéo dài ba năm) đặt khi chứng kiến cảnh tượng lung linh của Hồ Tây. Tên gọi Lãng Bạc ra đời vào thời kì nhà Hán trong giai đoạn 1000 năm đô hộ của Phong kiến phương Bắc. Trải qua thời gian, qua tầng tầng lớp lớp huyền thoại bồi lấp, Hồ Tây được phủ màu ảo ảnh, hiện hữu với vô vàn các vị thần, các truyền thuyết và trong quá trình phát triển ấy, tên gọi vực Kim Ngưu cũng bắt đầu xuất hiện. Tên gọi này theo 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân gian xuất hiện vào thời kì nhà Lý, gắn liền với vị sư Khổng Lồ (có truyện kể ghi là sư Không Lộ hay có bản kể không tên) - ông tổ của nghề đúc đồng.
Thời kì này, nước ta thiếu đồng để đúc khí vật thờ Phật, nhà sư xin đi sứ sang Trung Quốc và đem đồng đen về, vua bèn sai đúc thành bốn bảo vật, trong đó có một quả hồng chung. Khi tiếng chuông đầu tiên vang lên, con trâu vàng trong kho vua Trung Quốc thức giấc và chạy đi tìm mẹ. Lo lắng vì điều đó, nhà vua đã đem chuông vứt xuống Hồ Tây, trâu vàng cũng nhảy xuống hồ, từ đó, dân gian gọi nơi đây là vực Kim Ngưu. Sự tích này ra đời vào thời nhà Lý, đây là giai đoạn đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam và là đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc, tạo hình với nhiều thành tựu lớn, đặc biệt trong các công trình tôn giáo.
Ba trong bốn bảo vật lớn của Phật giáo còn tồn tại chính là tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền và tượng Phật chùa Quỳnh Lâm là ra đời trong thời kì nhà Lý. Mặc dù là truyền thuyết, là sự ra đời từ trí tưởng tượng của dân gian, nhưng tên gọi vực Kim Ngưu vẫn ẩn chứa những dấu vết lịch sử mang tính thời đại, từ đó tái dựng nên bức tranh triều Lý với những đặc trưng và thành tựu to lớn, thể hiện được cuộc sống bình yên, trù phú của nhân dân. Cuối triều Lý, tương truyền vào đời vua Lý Nhân Tông, trong một lần dạo chơi trên Hồ Tây cùng thái sư Lê Văn Thịnh, bất ngờ trời nổi giông gió và xuất hiện một con hổ trong làn sương dày đặc, người đánh cá Mục Thận ở gần đấy bỗng quăng lưới vào con hổ, con hổ hiện nguyên hình là thái sư Lê Văn Thịnh; vì âm mưu hại vua, thái sư bị đi đày còn người dân chài Mục Thận được phong làm Đô Uý và được thờ ở khu vực Hồ Tây ngày nay. Theo dân gian chính vì sự kiện này mà hồ có tên là Dâm Đàm, tức là hồ mù sương.
Mặc dù, truyện kể này liên quan đến các nhân vật có thật trong sử sách như vua Lý Nhân Tông, vị trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam Lê Văn Thịnh hay tên gọi Dâm Đàm nhưng theo ghi chép của Đại Việt sử kí toàn thư [19, tr. 190], vụ án trên hồ năm đó diễn ra vào thời hoàng đế thứ 4 của nhà Lý là Lý Nhân Tông (1096), trong khi tên gọi Dâm Đàm đã xuất hiện vào thời kì vua Lý thứ 2 Lý Thánh Tông (1044), bởi vậy, truyện kể về việc ra đời của tên gọi Dâm Đàm có khả năng là sự liên kết lại để tạo nên vẻ huyền bí cho Hồ Tây. Tên gọi Dâm Đàm còn được sử dụng trong đời nhà Trần. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đến thời nhà Lê, giai đoạn vua Lê Thế Tông (1573), vì vua có tên huý là Đàm nên Hồ Tây phải đổi tên thành Tây Hồ với ý nghĩa là hồ nước ở phía Tây (cũng có bản kể nói rằng tên Tây Hồ được đặt với ý nghĩa sánh ngang với Trung Quốc), dân gian quen gọi là Hồ Tây.
Từ năm 1573, tên gọi Hồ Tây mới chính thức ra đời và trở thành tên gọi được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay. Vào năm 1672, đất nước bị chia cắt làm đôi, chúa Trịnh Tạc lên ngôi cai trị vùng Đàng Ngoài, chúa được phong là Tây Định Vương nên đã đổi tên Hồ Tây thành Đoài Hồ. Tuy nhiên, tên gọi Đoài Hồ chỉ tồn tại đến giai đoạn 1788, khi quân Tây Sơn tiến ra Bắc, chấm dứt chế độ chúa Trịnh. Cho đến ngày nay, tên gọi Hồ Tây hay Tây Hồ vẫn được sử dụng như một cách gần gũi và dân dã nhất.
Hồ Tây trải qua nhiều lần đổi tên, mỗi tên gọi không chỉ mang dấu ấn của huyền thoại từ trong trí tưởng tượng dân gian mà còn là thông điệp của lịch sử, là những mảnh ghép tái hiện cuộc sống qua từng giai đoạn và là chứng nhân của biết bao triều đại, qua biết bao lần thịnh suy. Hồ Tây không chỉ là huyền thoại, là văn học mà còn là lịch sử nhân loại. Vị trí địa lý Hồ Tây là một trong những hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất ở Hà Nội với diện tích bề mặt lên tới 5.3km2, chu vi 18km, Hồ Tây nằm ở phía Tây Bắc của trung tâm Hà Nội. Hồ có dạng lòng chảo và là một nhánh của sông Hồng đã ngưng đọng lại.
Tương truyền, nơi đây trước kia là một vùng rừng cây, hệ thống động – thực vật phong phú, đặc biệt có nhiều loài quý hiếm, bởi vậy, nơi đây trở thành vùng sinh thái lớn của Hà Nội. Ngày nay, Hồ Tây được ví như lá phổi xanh của thành phố, là điểm đến bình yên, thư thái giữa chốn đô thị phồn hoa. Ngăn cách với Hồ Tây bởi con đường Thanh Niên cổ kính là hồ Trúc Bạch; xưa kia, hồ Trúc Bạch chính là một phần của Hồ Tây. Khu vực Hồ Tây nước lặng, cá tôm tập trung ở đây nhiều nên nhân dân quanh vùng đã đắp con đê để đánh cá dễ dàng hơn, con đê này được gọi là đê Cố Ngự, dân gian đọc chệch là Cổ Ngư (ngày nay là đường Thanh Niên).
Ngày nay, hồ Trúc Bạch đã thuộc về địa phận quận Ba Đình. Hồ Tây thuộc địa phận quận Tây Hồ, bao bọc quanh hồ là 8 phường: Bưởi, Nhật Tân, Phú Thượng, Quảng An, Thuỵ Khuê, Tứ Liên, Xuân La và Yên Phụ. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quận Tây Hồ được thành lập vào 1995 với việc sát nhập ba phường Bưởi, Thuỵ Khuê, Yên Phụ (Ba Đình) và năm xã Nhật Tân, Phú Thượng, Quảng An, Tứ Liên và Xuân La (Từ Liêm) thành một vùng trung tâm về văn hoá của thành phố Hà Nội. Khu vực quận Tây Hồ có điều kiện thiên nhiên ưu đãi, giao thông thuận lợi và là một trong bốn quận có diện tích tự nhất ở Hà Nội.
Xét về vị trí địa lý, khu vực Hồ Tây và quận Tây Hồ ngày nay là những vùng trung tâm về văn học và văn hoá dân gian, tuy nhiên, xét trong hệ trục văn hoá dân gian từ xa xưa, các vùng lân cận ngay sát Hồ Tây (ngày nay một số đã thuộc quận Ba Đình) và một số vùng có liên hệ trực tiếp với vùng văn hoá Hồ Tây xưa kia cũng thuộc hệ thống văn học và văn hoá dân gian vùng ven Hồ Tây (như khu vực Quán Thánh, Trúc Lâm, hồ Trúc Bạch…). Các vùng ven địa phận quận Tây Hồ ngày nay vẫn còn tồn tại những dấu tích văn hoá dân gian như văn học dân gian, làng nghề hay các công trình tâm linh của một vùng Hồ Tây xưa kia trong tiềm thức dân gian. Theo quan niệm của người xưa, “Hồ Tây có một địa thế rất đẹp, như ở giữa hồ có một vùng nước xoáy bên cái gò gọi là gò rồng nhả ngọc châu, tức là Châu Long, vì xưa kia, đoạn hồ Trúc Bạch thông với hồ Cổ Ngựa, chạy đến dốc Hàng Than. Chung quanh đó là kiểu đất long, ly, quy, phượng như Trấn Vũ, Thuỵ Chương nằm trên thế phượng chầu.
Quảng Bá, Tây Hồ, Nghi Tàm nằm trên thế rùa chầu. Trúc Bạch, Yên Ninh nằm trên thế rồng chầu. Nhật Chiêu, Quán La, Trích Sài nằm trên thế ly chầu,, riêng Võng Thị, Hồ Khẩu, Yên Thái lại nằm trên thế cá nhô ra mặt hồ…” [51, tr. Hồ Tây cùng với Hồ Gươm đã tạo nên hai mũi nhọn không chỉ về kinh tế, du lịch mà còn là những trung tâm văn hoá lớn của Hà Nội, chứa đựng không chỉ là huyền thoại mà còn mang dấu ấn của thời đại, của lịch sử.
Lịch sử Lịch sử Hồ Tây là sự bồi đắp không chỉ của tự nhiên mà còn được tái dựng từ trí tưởng tượng dân gian. Từ trong tự nhiên, Hồ Tây được chứng minh là một nhánh của sông Hồng, “trước thế kỉ X, sông Hồng tạo thành một khúc uốn rộng ở khu vực Hồ Tây hiện nay. Sau đó khúc uốn này tách thành hai nhánh” [97, tr. 26], nhánh chính chảy về phía Đông và nhánh phụ chảy về phía Nam chính là sông Tô Lịch.