phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 5 tiết. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH 1. Tiểu sử bản thân và con đƣờng cách mạng 1. Giai đoạn trước năm 1911: Theo lý lịch chính thức, Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, tại quê ngoại ở làng Hoàng Trù và sống ở đây cho đến năm 1895.
Năm 1907, Hồ Chí Minh vào học tại trường Quốc học Huế và tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ. Đầu năm 1910, Người vào đến Phan Thiết dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp ba và tư tại trường Dục Thanh của hội Liên Thành. Năm 1911, Người nghỉ dạy và vào Sài Gòn theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son. Sau một thời gian Hồ Chí Minh quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương để được ra nước ngoài.
Giai đoạn này Hồ Chí Minh lớn lên và sống trong nỗi đau của người dân mất nước, được sự giáo dục của gia đình, quê hương, dân tộc về lòng yêu nước thương dân. Người sớm tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp, băn khoăn trước những thất bại của các sĩ phu yêu nước chống Pháp. Người ham học hỏi, muốn tìm hiểu những tinh hoa văn hóa tiên tiến của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở châu Âu, muốn đi ra nước ngoài xem họ làm gì để trở về giúp đồng bào thoát khỏi vòng nô lệ. Chính vào lúc đó Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng yêu nước, thương dân, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, ham muốn học hỏi những tư tưởng tiến bộ của nhân loại.
Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1920: Năm 1911, từ Bến Nhà Rồng, Hồ Chí Minh lấy tên Văn Ba, lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên một tàu buôn với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây. Sau khi ở Hoa Kỳ một năm, Người quay trở lại nước Anh làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khách sạn. Cuối năm 1917, Người trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm 1923. Ngày 19 tháng 6 năm 1919, thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, Hồ Chí Minh đã mang tới Hội nghị Hòa bình Vec - xây bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, trao tận tay tổng thống Pháp và các đoàn đại biểu đến dự hội nghị.
Từ đây, Hồ Chí Minh công khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và sử dụng tên này trong suốt 30 năm sau đó. Năm 1920, Hồ Chí Minh đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê - nin, từ đó ông đi theo chủ nghĩa cộng sản. Người tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tua với tư cách là đại biểu Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp, trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và tách khỏi đảng Xã hội. Giai đoạn này Hồ Chí Minh đi nhiều nơi với mục tiêu tìm đường cứu nước.
Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh đã có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng; từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc tiến lên giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ một chiến sĩ chống thực dân phát triển thành một chiến sĩ cộng sản Việt Nam. Đây là một bước chuyển biến cơ bản về tư tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản". Giai đoạn từ năm 1921 đến năm 1930: Năm 1921, Hồ Chí Minh cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng lên chống chủ nghĩa đế quốc. Tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" bằng tiếng Pháp do Người viết được xuất bản năm 1925 đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.
Năm 1925, Hồ Chí Minh thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) để truyền bá Mác-Lê- nin vào Việt Nam. và tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông. Năm 1930, tại Cửu Long thuộc Hương Cảng, Hồ Chí Minh thống 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó đổi tên là "Đảng Cộng sản Đông Dương", rồi đổi thành "Đảng Lao Động Việt Nam" và nay là "Đảng Cộng sản Việt Nam"). Giai đoạn này Hồ Chí Minh đã có những hoạt động thực tiễn và lý luận sôi nổi, phong phú ở Pháp, ở Liên Xô, ở Trung Quốc, ở Thái Lan, từ đó hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã kết hợp nghiên cứu xây dựng lý luận, kết hợp với tuyên truyền tư tưởng giải phóng dân tộc và vận động tổ chức quần chúng đấu tranh, xây dựng tổ chức cách mạng, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Những tác phẩm và những bài viết của Hồ Chí Minh đã thể hiện những quan điểm lớn và độc đáo, sáng tạo về con đường cách mạng Việt Nam. Cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh trong những năm 20 của thế kỷ XX được truyền bá vào Việt Nam, làm cho phong trào dân tộc và giai cấp ở nước ta trở thành một phong trào tự giác, dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930, thông qua Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945: Năm 1931, Hồ Chí Minh bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam với ý định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương.
Hồ Chí Minh trở về Việt Nam vào năm 1941, ở tại tỉnh Cao Bằng và mở các lớp huấn luyện cán bộ, cho in báo, tham gia các hoạt động thường ngày. Năm 1941, Hồ Chí Minh là chủ tọa hội nghị mở rộng lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp ở Cao Bằng và quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Cuối năm 1944, Hồ Chí Minh tổ chức lập lực lượng vũ trang và căn cứ địa cho chặt chẽ và hiệu quả hơn; trực tiếp ra chỉ thị thành lập một đội quân mang tính chính thống và chính quy là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 trên quảng trường Ba Đình tại Hà Nội, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giai đoạn này trên cơ sở tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam đã hình thành về cơ bản, Hồ Chí Minh kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng của mình, phát triển thành chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập tư tưởng độc lập, tự do, dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Đây là mốc lịch sử không chỉ đánh dấu kỷ nguyên tự do, độc lập mà còn là bước phát triển mở rộng tư tưởng dân quyền và nhân quyền của cách mạng tư sản thành quyền tự do, độc lập của các dân tộc trên thế giới. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1969 Năm 1945, Pháp tấn công Sài Gòn, quân dân Sài Gòn cấp tập chống cự. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tổ chức, bầu ra Quốc hội và Quốc hội thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam.
Người trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhà nước và chính phủ đối mặt với hàng loạt khó khăn cả về đối nội và đối ngoại. Về đối ngoại, Việt Nam chưa được bất cứ quốc qia nào công nhận, không phải thành viên Liên hiệp quốc, cũng như không nhận được sự ủng hộ nào về vật chất của các nước cộng sản khác. Ngoài 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc, còn có quân Anh và quân Pháp và khoảng 6 vạn quân Nhật.
Về đối nội, "giặc đói, giặc dốt" và ngân quỹ trống rỗng. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2, Hồ Chí Minh quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai trở lại với tên mới là Đảng Lao động Việt Nam. Người tuyên bố: "Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam" [18, tr. Cuộc Chiến tranh Đông Dương kết thúc vào năm 1954, khi người Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ và dẫn đến Hiệp định Giơ - ne - vơ.
Cuộc cải cách ruộng đất, phát động vào cuối năm 1953 và kéo dài cho tới cuối năm 1957, đã phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng. Từ tháng 2 năm 1956, công cuộc sửa sai được khởi sự, Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ nhìn nhận sai lầm, Người khóc và nhận lỗi 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trước hội nghị toàn quốc. Từ khoảng nửa đầu thập niên 1960, sức khỏe Hồ Chí Minh giảm sút, Người bắt đầu viết di chúc vào dịp sinh nhật năm 1965. Trong di chúc, Người có viết "Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới" [3, tr.
Hồ Chí Minh mất vào hồi 9 giờ 47 phút sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969. Giai đoạn này Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa xây dựng chế độ dân chủ nhân dân (1945 - 1954) mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ; tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đây là thời kỳ tư tưởng Hồ Chí Minh có bước phát triển mới, trong đó nổi bật là các nội dung lớn như sau: - Tư tưởng kết hợp kháng chiến với kiến quốc, tiến hành kháng chiến kết hợp với xây dựng chế độ dân chủ nhân dân; tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau, đó là cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nhằm một mục tiêu chung trước mắt là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.