Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUỐC PHÒNG 1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng * Quan niệm tư tưởng Hò Chí Minh về quốc phòng Trong Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, mục từ “Quốc phòng” được biên soạn: “Quốc phòng, công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học. của nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, nhằm giữ vững hoà bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kể thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, quy mô. Quốc phòng trở thành hoạt động của cả nước, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt.
Quốc phòng phải kết hợp chặt chẽ với an ninh để bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ. Quốc phòng, an ninh phải kết hợp chặt chẽ với kinh tế để bảo vệ và xây dựng đất nước. Tổ chức quốc phòng của mỗi nước phụ thuộc trực tiếp vào chế độ chính trị - xã hội, truyền thống dân tộc và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước. Nhiều nước quan niệm quốc phòng là một bộ phận của an ninh quốc gia”[123, tr.
Mục từ này đã chỉ ra một cách chung nhất vấn đề quốc phòng của mọi quốc gia, đồng thời cũng chỉ ra cách tiếp cận nghiên cứu quốc phòng của mỗi quốc gia, dân tộc. Trong đó, vừa chỉ ra tổng thể các mặt, các lĩnh vực, phạm vi của quốc phòng, khẳng định mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, đồng thời chỉ ra động lực, phương thức quốc phòng. Tuy chưa phải là một khái niệm hoàn chỉnh, một quan niệm thật gọn, rõ, thật sâu sắc và có tính khái quát cao về quốc phòng, nhưng mục từ này đã chỉ ra được những vấn đề cơ bản, những mặt chủ yếu, những mối quan hệ trực tiếp của quốc phòng với các lĩnh vực khác của công cuộc giữ nước. Để tạo hành lang pháp lý đầy đủ đáp ứng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XIV, kỳ họp thứ 5 ngày 08 tháng 6 năm 2018 đã thông qua Luật 15 Quốc phòng, trong đó xác định “Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt” [62, tr.
Trong bộ sách Hồ Chí Minh, toàn tập (15 tập), do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản năm 2011, trong những bài nói, bài viết của Người cho thấy, chưa khi nào Chủ tịch Hồ Chí Minh tách rời quân sự với các mặt khác, không bao giờ sa vào quân sự đơn thuần, mặc dù lĩnh vực quân sự là một lĩnh vực rất đặc thù. Người luôn luôn nhìn thấu và nhận thức sâu sắc mối quan hệ giữa các lĩnh vực, đồng thời giải quyết thành công các mối quan hệ đó trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, trong thực tiễn xây dựng quân đội. Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng không những cần phải đặt trong mối quan hệ biện chứng và thống nhất với các nội dung khác trong hệ thống tư tưởng quân sự của Người, mà việc nghiên cứu tư tưởng đó còn phải đặt trong toàn bộ hệ thống quan điểm, chiến lược cách mạng của Người trong suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Mặc dù Hồ Chí Minh chưa khi nào đưa ra một định nghĩa chung nhất về quốc phòng, nhưng thông qua những tác phẩm, các bài nói, bài viết về vấn đề quân sự; từ thực tế chỉ đạo chiến lược, chiến dịch trong suốt cuộc đời hoạt động và lãnh đạo cách mạng của Người, có thể thấy rằng Hồ Chí Minh đã đề cập đến nhiều mặt cơ bản của quốc phòng, và qua đó đã hình thành những luận điểm nhất quán của mình về quốc phòng.
Trên cơ sở cách tiếp cận nguồn tư liệu, tài liệu phong phú, gắn nghiên cứu tư tưởng với thực tiễn hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể quan niệm: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng là hệ thống các quan điểm của Người về sự tất yếu, tính chất, lực lượng, thế trận, sức mạnh và phương thức thực hiện quốc phòng ở Việt Nam; kết quả của sự vận dụng, phát triển, sáng tạo học thuyết quân sự Mác - Lênin, kế thừa truyền thống 16 quân sự của dân tộc, tiếp thu tinh hoa quân sự thế giới vào chỉ đạo công cuộc phòng thủ đất nước của nhân dân ta đáp ứng yêu cầu chống xâm lược, bảo vệ độc lập chủ quyền trước đây cũng như tăng cường quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nền tảng quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng. Trên cơ sở nghiên cứu về các cuộc cách mạng xã hội trong lịch sử và thực tiễn đương thời, nhất là thực tiễn của Công xã Pari, C.Ăngghen cho rằng, cuộc cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo không những sẽ có tính chất dân tộc mà sẽ đồng thời nổ ra trong tất cả các nước văn minh, tức là, ít nhất ở Đức, Pháp, Anh và Mỹ. Hai nhà kinh điển với lý luận sắc xảo và khảo cứu kinh nghiệm từ các cuộc cách mạng trước đó đã tiên đoán rằng, giai cấp vô sản sau khi giành được chính quyền trong tay thì phải vũ trang để bảo vệ những thành quả ấy - đây là một quy luật tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.Ăngghen cũng chỉ ra rằng cuộc cách mạng của giai cấp vô sản khi thành công sẽ không tránh khỏi sự chống đối của các giai cấp bóc lột đã bị lật đổ.
Các giai cấp bóc lột đã bị lật đổ sẽ sử dụng vũ khí có trong tay và dựa vào sự ủng hộ của các lực lượng phản động cả bên trong và bên ngoài sẽ chống lại chính quyền mới. Trong những điều kiện ấy, giai cấp công nhân phải không ngừng nêu cao cảnh giác và có sự chuẩn bị về mọi mặt, nhất là quân sự để đè bẹp sự phản kháng của kẻ thù, bảo vệ thành quả cách mạng.Ăngghen đã chỉ ra rằng, tuy bị lật đổ nhưng các giai cấp bóc lột vẫn còn một lượng vũ khí nhất định trong tay. Với lượng vũ khí đó, giai cấp bóc lột bị lật đổ sẽ sử dụng nó để giành lại chính quyền, mong muốn phục hồi lại trật tự cũ. Do đó, để đập ta sự phản kháng của giai cấp bóc lột, giai cấp vô sản phải dùng sức mạnh của vũ khí.
Trong cuộc đấu tranh với những lực lượng phản cách mạng 17 bên trong và bên ngoài đất nước, giai cấp vô sản phải sẵn sàng cho những cuộc chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh giải phóng dân tộc. Mặc dù mới giành chính quyền với sức mạnh quân sự còn có những hạn chế nhất định, song giai cấp vô sản vẫn có khả năng giành thắng lợi trước sự tiến công quân sự của giai cấp tư sản và các thế lực thù địch tiến hành. Sau khi giành được chính quyền thì giai cấp vô sản phải kiên quyết đập tan mọi hành động phản kháng của giai cấp tư sản, củng cố khối liên minh công - nông, củng cố nhà nước chuyên chính vô sản; tổ chức xây dựng xã hội mới, thành lập các đội dân cảnh, giải tán quân đội cũ và vũ trang toàn dân.Ăngghen đã nghiên cứu rất sâu sắc bài học kinh nghiệm từ công xã Pari. Việc nghiên cứu vấn đề này của hai ông có ý nghĩa rất sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn đối với việc bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản sau khi giành được chính quyền.
Dưới sự lãnh đạo của V.Lênin và Đảng Bônsêvich, giai cấp công nhân Nga đã lãnh đạo toàn dân tiến hành thành công cuộc Cách mạng tháng Mười vĩ đại, lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Từ thực tiễn công cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền Xô-viết non trẻ, Lênin đã bổ sung, phát triển những tư tưởng của C.Ăngghen về bảo vệ thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới. Với tuyên bố: “Kể từ ngày 25/10/1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ tổ quốc”, những cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc, bảo vệ nước Cộng hòa xô-viết với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội” [55, tr.
Sự tất yếu khách quan của việc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mà C.Ăngghen nêu ra đã được V.Lênin một lần nữa khẳng định. Theo đó, mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc được V.Lênin xác định là bảo vệ Nhà nước Xôviết non trẻ, bảo vệ thành quả cách mạng. Trong điều kiện phải 18 chống lại sự tấn công bằng vũ trang của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động mưu toan lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa, thì giai cấp công nhân Nga buộc phải phải tiến hành một cuộc chiến tranh vũ trang để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Lực lượng bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là công - nông - binh và quần chúng lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự tổ chức, quản lý của chính quyền Xôviết.
Sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của đất nước, của chế độ mới được huy động tối đa tạo thành sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản. Trong sức mạnh tổng hợp đó, V.Lênin đặc biệt chú trọng quan tâm, cùng với đó là việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và vai trò tổ chức, quản lý của Nhà nước Xôviết.Lênin đã đề cập đến khả năng phòng thủ đất nước, đặc biệt là vấn đề quốc phòng: “chính vì chúng ta chủ trương bảo vệ tổ quốc, nên chúng ta đòi hỏi phải có một thái độ nghiêm túc đối với khả năng quốc phòng và đối với vấn đề chuẩn bị chiến đấu của nước nhà”[53, tr.