CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP TRẢ LƯƠNG 3P TRONG DOANH NGHIỆP 1.Các khái niệm liên quan 1. Tiền lương Tiền lương có vai trò rất lớn đối với toàn xã hội, luôn gắn với người lao động là nguồn sống chủ yếu của người lao động và gia đình họ. Tiền lương là thước đo giá trị sức lao động của người lao động đồng thời cũng là công cụ, phương tiện cho người sử dụng lao động dùng để kích thích người lao động nâng cao năng lực làm việc của mình, phát huy khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, tiền lương còn có tác động tích cực đến quản lý kinh tế, quản lý lao động, kích thích sản xuất.
Trong quan hệ lao động, tiền lương là nội dung các bên đặc biệt quan tâm, quyết định đến sự ổn định, bền vững của quan hệ lao động. Từ góc độ kinh tế, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi hoàn thành công việc theo thỏa thuận. Với người sử dụng lao động, tiền lương là một trong những yếu tố đầu vào của sản xuất, cấu thành nến chi phí sản xuất, vì vậy người sử dụng lao động cần cân đối nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Với người lao động, tiền lương là thù lao, là khoản bù đắp hao phí sức lao động mà họ nhận được trong quá trình tham gia lao động, sản xuất.
Theo định nghĩa về tiền lương được Tổ chức Lao động quốc tế quy định trong Điều 1 Công ước số 95 năm 1949 về bảo vệ tiền lương. Định nghĩa này có tính phổ biến và được hầu hết các quốc gia cụ thể hoá trong pháp luật, theo đó: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận 13 giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng lời nói cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm". Cùng với định nghĩa này, Tổ chức Lao động quốc tế cũng đưa ra các dấu hiệu nhận biết cơ bản về tiền lương, bao gồm: 1) là sự trả công lao động; 2) hình thức biểu hiện bằng tiền mặt; 3) ấn định bằng thỏa thuận hoặc pháp luật; 4) thuộc về nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Định nghĩa này của Tổ chức Lao động quốc tế được nhiều quốc gia vận dụng quy định có tính đến sự phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội riêng.
Cùng với góc độ tiếp cận, đặc điểm của nền kinh tế và điều chỉnh pháp luật trong những giai đoạn khác nhau mà có những định nghĩa về tiền lương khác nhau. Từ góc độ kinh tế, tiền lương theo quan điểm cải cách tiền lương năm 1993 của Việt Nam được định nghĩa như sau: “Tiền lương là giá cả của sức lao động đước hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với cung - cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”. Hiện nay, khái niệm tiền lương được tiếp cận đơn giản theo Điều 90 Bộ luật lao động Việt Nam năm 2019 như sau: “Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận.Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định”.
Như vậy, tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động. Theo giáo trình Quản trị Thù lao lao động trong doanh nghiệp do TS Đỗ Thị Tươi chủ biên có đưa ra khái niệm như sau: “Tiền lương là số lượng 14 tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động thông qua sự thoả thuận giữa các bên trong quan hệ lao động và phù hợp với các quy định của pháp luật lao động” [23, Tr. Do đó tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hóa. Mặt khác, trong điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hóa và tiền tệ, tiền lương là một yếu tố chi phí sản xuất, kinh doanh cấu thành nên giá thành của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
Tiền lương được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động căn cứ vào năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc, điều kiện lao động thực tế của người lao động theo quy định của pháp luật hoặc theo sự thoả thuận hợp pháp của hai bên trong hợp đồng lao động. Ngoài ra, tiền lương còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động, có tác dụng động viên khuyến khích tinh thần hăng hái lao động, kích thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc của họ. Nói cách khác, tiền lương chính là một nhân tố thúc đẩy năng suất lao động. Phương pháp trả lương và vận dụng phương pháp trả lương 3P trong doanh nghiệp Phương pháp là những cách thức, có tính đường lối được chủ thể sử dụng để thực hiện một mục đích nhất định.
Là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện một mục đích nhất định. Phương pháp trả lương theo giáo trình Quản trị thù lao lao động trong doanh nghiệp do TS Đỗ Thị Tươi chủ biên đã định nghĩa như sau: “ Phương pháp trả lương là cách thức tính trả lương cho người lao động dựa vào nhiều yếu tố quyết định như giá trị công việc, kỹ năng, kiến thức của người lao động, kết quả thực hiện công việc… Tiền lương mà người lao động nhận 15 được phụ thuộc vào bản thân người lao động, công việc họ đảm nhận và kết quả lao động của họ” [16, Tr. Theo giáo trình Quản trị thù lao lao động trong doanh nghiệp do TS Đỗ Thị Tươi chủ biên có đưa ra định nghĩa về phương pháp trả lương 3P như sau: “Phương pháp trả lương 3P là phương pháp kết hợp 3P gồm: kết hợp giữa trả lương theo công việc với trả lương theo đặc tính cá nhân người lao động (theo kỹ năng, năng lực) với trả lương theo kết quả thực hiện công việc”. “Đây là phương pháp trả lương dựa vào vị trí, chức danh công việc, đặc tính cá nhân của người lao động và thành tích lao động của cá nhân” [6, Tr.
Vậy phương pháp trả lương 3P là phương pháp tính toán tiền lương dựa vào đầu vào của công việc, quá trình của công việc và đầu ra của công việc. Cụ thể như sau : P1 (Pay for Position): Trả lương theo vị trí công việc. P2 (Pay for Person): Trả lương cho năng lực của người giữ vị trí công việc P3 (Pay for Performance): Trả lương cho kết quả đạt được của người giữ vị trí công việc. Sự kết hợp 3 yếu tố trên giúp doanh nghiệp trả lương cho nhân viên đúng với khả năng và giá trị họ mang lại, giảm thiểu tính phiến diện và quan liêu như cách tính lương truyền thống ở nhiều cơ quan, tổ chức.
Phương pháp trả lương này khắc phục được các nhược điểm của phương pháp trả lương truyền thống như quá chú trọng đến bằng cấp hoặc thâm niên, không phân biệt được năng lực thực hiện công việc và đóng góp của cá nhân vào hiện thực hóa mục tiêu doanh nghiệp. P1 - Pay for Position : Trả lương cho vị trí công việc đảm nhận tức là trả theo tầm quan trọng của công việc, gắn liền với các yếu tố như cấp bậc, chức danh của người đó trong tổ chức. Ví dụ như vị trí công việc giám đốc, quản đốc, công nhân trực tiếp sản xuất… 16 P2 - Pay for Person: Trả lương theo năng lực cá nhân tức là trả theo khả năng hoàn thành trên cùng một công việc. Ví dụ như năng lực trình độ đại học, cao học, hay đáp ứng các khung năng lực riêng của doanh nghiệp.
Trả lương theo năng lực của người đảm nhận công việc, tức là việc dùng kết quả đánh giá năng lực nhân sự để định ra số tiền tương xứng với năng lực đó. P3 - Pay for Performance : Trả lương theo kết quả công việc hay còn gọi là trả lương theo thành tích đạt được, gắn liền với các chỉ tiêu về hiệu suất công việc. Trả lương theo thành tích là cách doanh nghiệp thưởng bằng tài chính cho nhân viên khi hiệu suất làm việc của họ ở mức tốt, đáp ứng được các chỉ tiêu đặt ra và mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Có nhiều cách để gọi tên việc trả lương theo thành tích, như là: commission (hoa hồng), lương hiệu quả, thưởng KPI,… Thậm chí nó có thể ở dạng kế hoạch khen thưởng dài hạn cho nhân viên như: trao cổ phiếu, thưởng nóng hoặc để gộp tới cuối quý… 1.
Nội dung của phương pháp trả lương 3P trong doanh nghiệp. Phương pháp trả lương 3P là phương pháp tính toán tiền lương dựa theo 3 yếu tố cơ bản: P1 (Pay for Position): Trả lương theo vị trí công việc. P2 (Pay for Person): Trả lương cho năng lực của người giữ vị trí công việc P3 (Pay for Performance): Trả lương cho kết quả đạt được của người giữ vị trí công việc. Sự kết hợp 3 yếu tố trên giúp doanh nghiệp trả lương cho nhân viên đúng với giá trị mà người lao động đóng góp, đúng với năng lực và đúng với hiệu quả, hướng tới sự công bằng trong trả lương, qua đó đảm bảo khả năng thu hút, giữ chân và tạo động lực cho người lao động.
Trả lương theo vị trí công việc (Pay for Position - P1) Theo tạp chí khoa học ứng dụng trả lương theo 3P tại các doanh nghiệp Việt Nam, Lê Quân (2011): “Trả lương theo công việc (P1) thể hiện làm việc gì trả lương đó. Để trả lương theo công việc, doanh nghiệp sẽ xác định giá trị 17 của công việc (tầm quan trọng của công việc) và quyết định mức lương cần trả cho công việc trong tương quan với các công việc khác và mức lương phổ biến trên thị trường lao động. Tiền lương theo công việc thường được biểu diễn dưới dạng hàm tiền lương. Công việc càng có giá trị cao thì mức lương càng cao”.