MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. Cách đây hơn 300 năm, nhà giáo dục học lỗi lạc GI. Comenski (1592 – 1670) đã xác định: “Nhiệm vụ đầu tiên và cuối cùng của lí luận dạy học là phát hiện và nhận biết những phƣơng pháp dạy học nào làm cho GV chỉ cần dạy ít mà HS học đƣợc nhiều và làm cho nhà trƣờng bớt sự nhàm chán và bớt sự nhọc nhằn”.
Cho đến nay, những suy nghĩ của Comenski vẫn có giá trị thời sự và ý nghĩa tích cực. Đối với những GV đang tham gia vào qúa trình giảng dạy, việc tìm hiểu và áp dụng những PPDH nhƣ thế vẫn là một thách thức lớn. Vẫn biết tuỳ thuộc vào phong cách giảng dạy và đặc điểm môn học, trong hành trang của mỗi giáo viên có rất nhiều những PPDH khác nhau. Tuy nhiên việc cập nhật và áp dụng những PPDH hiện đại vẫn luôn luôn là một phần công việc đƣợc GV quan tâm trong quá trình đổi mới phƣơng pháp.
Trong hành trình đi tìm những PPDH “làm cho GV chỉ cần dạy ít mà HS học đƣợc nhiều và làm cho nhà trƣờng bớt sự nhàm chán và bớt sự nhọc nhằn” nhƣ Comenski đề xuất, chúng tôi nhận thấy phƣơng pháp HTQTHD của J. Martin có thể tạo ra những thay đổi tích cực trong cách dạy, cách học của GV và HS; đem lại cho giờ học Ngữ văn một không khí học tập mới. (Tên gọi phƣơng pháp HTQTHD đƣợc dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “learning by teaching”. Trong nguyên bản tiếng Đức, phƣơng pháp này có tên là “Lernen durch Lerhen” - viết tắt là LdL.
Ngoài ra, phƣơng pháp HTQTHD còn đƣợc biết đến dƣới một cái tên khác “peer tutoring” - dạy học đồng trang lứa. Để thống nhất, khi nói đến phƣơng pháp HTQTHD của Jean Pol Martin, giới nghiên cứu trên thế giới thƣờng sử dụng tên ngắn: phƣơng pháp LdL. Để thuận tiện hơn trong quá trình sử dụng, từ đây, chúng tôi cũng sử dụng thuật ngữ LdL để gọi tên phƣơng pháp của Jean Pol Martin). Là một trong những phƣơng pháp dạy học đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng thành công ở nhiều nƣớc trên thế giới, phƣơng pháp LdL đã thể hiện đƣợc những ƣu điểm nổi bật của mình trong việc hƣớng tới đáp ứng các mục tiêu của giáo dục hiện đại mà UNESCO đề xƣớng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” (learning to know, learning to do, learning to live together, learning to be)[43].
Phƣơng pháp LdL đƣợc đánh giá là một trong những PPDH tích cực, có ảnh 8 z hƣởng sâu rộng trong phong trào cải cách giáo dục ở Đức những năm đầu thế kỉ XXI. Từng đƣợc HS-SV ở nhiều nƣớc có nền giáo dục tiến tiến nhƣ: Mĩ, Anh, Pháp, Nhật…hào hứng đón nhận và áp dụng, phƣơng pháp LdL ngày càng đƣợc phổ biến rộng rãi, đƣợc phát triển và hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn. Tìm hiểu các vấn đề lí thuyết và quá trình vận dụng phƣơng pháp, có thể dễ dàng nhận thấy LdL đáp ứng những yêu cầu mà Luật giáo dục Việt Nam đề ra: “Phƣơng pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tƣ duy sáng tạo của ngƣời học; bồi dƣỡng cho ngƣời học năng lực tự học, khả năng trƣởng thành, lòng say mê học tập và ý chí vƣơn lên”[1, điều 28]. Do vậy, đối với những GV có nhiều trăn trở, tìm tòi trong công cuộc đổi mới phƣơng pháp, LdL có thể gợi mở một hƣớng đi mới và đem lại nhiều triển vọng.
Đáng tiếc là ở Việt Nam hiện nay, phƣơng pháp này còn khá mới mẻ, nó chƣa đƣợc giới thiệu kĩ lƣỡng và chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Có thể nói LdL hầu nhƣ chƣa đƣợc quan tâm và triển khai trong nhà trƣờng phổ thông. Thực hiện đề tài “Vận dụng phƣơng pháp học thông qua thực hành dạy trong môn Ngữ văn ở trƣờng trung học phổ thông”, chúng tôi hi vọng tìm đƣợc một hƣớng đi tích cực trong quá trình đổi mới PPDH của bản thân đồng thời giúp cho GV Ngữ văn quan tâm hơn đến phƣơng pháp này và áp dụng vào quá trình dạy học của mình nhằm nâng cao chất lƣợng học tập bộ môn. Lịch sử nghiên cứu.
Cha đẻ của phƣơng pháp LdL là tiến sĩ Jean-Pol Martins, ngƣời Đức. Dựa trên triết lí của nhà triết học Seneca, ngƣời Roman: ““Khi dạy cho ngƣời khác nghĩa là chúng ta đang học” (By teaching, we are learning)[37], năm 1980 ông đã phát triển một hệ thống lí luận hoàn chỉnh về phƣơng pháp LdL sau nhiều năm nghiên cứu và tiến hành thực nghiệm. Phƣơng pháp này đã đƣợc nhiều trƣờng học ở Đức, Mỹ, Autralia, Anh, Pháp…. Trên thế giới, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có uy tín về tính khả thi của việc áp dụng phƣơng pháp này.
Tiêu biểu là các công trình của Cohen (1982), Hedin (1987), Goodlas và Hirst (1989), Benard (1990) và Swengel (1991). Các nhà nghiên cứu đã khảo sát và khẳng định những lợi ích của phƣơng pháp “dạy học đồng trang lứa” (Peer tutoring - một tên khác của phƣơng pháp LdL) đối với sinh viên dạy và sinh 9 z viên đƣợc dạy. Ngoài ra, cũng đã có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả áp dụng phƣơng pháp LdL nhƣ tính đồng nhất tƣơng đối về lứa tuổi của ngƣời dạy và ngƣời đƣợc dạy (DePaulo, 1989), sự chƣa hoàn thiện về tính sƣ phạm và kiến thức của một số sinh viên dạy (Willis và Cowder, 1974), hay việc thiếu duy trì đều đặn những tiến bộ đạt đƣợc của SV đƣợc dạy (Atherly, 1989).45] Cho đến nay, ở Việt Nam, phƣơng pháp LdL vẫn chƣa đƣợc nhiều ngƣời quan tâm, chú ý. Khảo sát một số tài liệu, giáo trình giáo dục học dùng cho sinh viên các trƣờng sƣ phạm chúng tôi thấy khi giới thiệu về các phƣơng pháp dạy học các tác giả không đề cập đến phƣơng pháp LdL.
Ngƣời đầu tiên tìm hiểu và giới thiệu về phƣơng pháp LdL ở Việt Nam là TS. Nguyễn Thị Phƣơng Hoa (ĐHNN - ĐHQGHN). Trong bài viết: “Dạy học thông qua thực hành dạy - một phƣơng hƣớng tích cực trong đào tạo giáo viên” đăng trên tạp chí giáo dục số 123 (tháng 10 năm 2005), tác giả giới thiệu khái niệm và một số vấn đề cơ bản về phƣơng pháp LdL (tên phƣơng pháp đƣợc dịch là “Dạy học thông qua thực hành dạy”). TS khẳng định phƣơng pháp này có nhiều ƣu điểm và đặc biệt hữu ích khi sử dụng trong đào tạo giáo viên.
Nguyễn Thị Phƣơng Hoa đã khuyến khích thử nghiệm phƣơng pháp này ở một số môn học tại trƣờng ĐHNN - ĐHQGHN. Tiến trình thực hiện và những thông tin phản hồi về việc áp dụng phƣơng pháp LdL đối với SV hệ chất lƣợng cao thuộc khoa Ngôn ngữ và văn hoá Anh - Mĩ đƣợc dẫn đăng trên tạp chí khoa học ĐHSP Hà Nội số 6 (tháng 12 năm 2005). Theo tìm hiểu của chúng tôi, phƣơng pháp LdL cũng đã đƣợc một số GV môn tiếng Anh (ĐHNN - ĐHQGHN) áp dụng để dạy cho học viên cao học từ năm 2005 đến nay.Trong một hội thảo cấp trƣờng về đổi mới phƣơng pháp dạy học, ThS. Nguyễn Vân Anh (trƣờng CĐSP Nha Trang) đã kế thừa những nghiên cứu của TS.
Nguyễn Thị Phƣơng Hoa và tiếp tục khẳng định sử dụng phƣơng pháp LdL là một phƣơng thức đổi mới phƣơng pháp dạy học hiệu quả. Ngoài ra, ở bài viết “Hƣớng dẫn tổ chức dạy học sinh giỏi các chuyên đề chuyên sâu”, TS. Đỗ Ngọc Thống đã giới thiệu một vài nét cơ bản về phƣơng pháp LdL của Martin (tên phƣơng pháp đƣợc dịch là “học qua dạy”) và khẳng định: 10 z “Phƣơng pháp này rất phù hợp với việc học các chuyên đề chuyên sâu của HS chuyên văn. 47] Tóm lại, ở bậc ĐH – CĐ, phƣơng pháp LdL đã bắt đầu đƣợc chú ý và đƣa vào thử nghiệm.
Tuy nhiên chƣa có tác giả hoặc công trình nào đi sâu nghiên cứu việc sử dụng phƣơng pháp LdL trong giảng dạy các môn học ở nhà trƣờng phổ thông nói chung cũng nhƣ môn Ngữ văn trong trƣờng THPT nói riêng. Mục đích nghiên cứu. Chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn : - Giới thiệu phƣơng pháp LdL một cách tƣơng đối hệ thống và chỉ ra khả năng vận dụng của nó đối với môn Ngữ văn ở trƣờng THPT. - Đề xuất hƣớng vận dụng phƣơng pháp này vào tổ chức dạy học Ngữ văn trong nhà trƣờng phổ thông.
Nhiệm vụ nghiên cứu. Để đạt đƣợc mục đích trên, đề tài đã tiến hành thực hiện các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu bản chất, đặc điểm và yêu cầu của phƣơng pháp LdL - Khảo sát khả năng vận dụng phƣơng pháp này vào chƣơng trình Ngữ văn THPT ở Việt Nam. - Nghiên cứu quy trình vận dụng phƣơng pháp LdL cho một số kiểu bài học cụ thể. - Thử nghiệm sƣ phạm vận dụng phƣơng pháp LdL.
Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu. Nhƣ tên đề tài đã chỉ ra, đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là định hƣớng vận dụng phƣơng pháp LdL cho môn Ngữ văn ở trƣờng THPT. Khách thể nghiên cứu.
Khách thể nghiên cứu của luận văn là quá trình dạy học của GV và HS trong giờ Ngữ văn ở trƣờng THPT. Phạm vi nghiên cứu. Trên thế giới, phƣơng pháp LdL từng đƣợc áp dụng ở nhiều cấp học, nhiều môn học với quy mô khác nhau. Phƣơng pháp LdL có thể đƣợc áp dụng cho HS trong một 11 z trƣờng, HS-SV lớp trên dạy cho HS-SV lớp dƣới một số bài trong chƣơng trình học hoặc cho toàn bộ khoá học ở bậc đại học với nhiều môn học khác nhau.
Trong khuôn khổ đề tài này, căn cứ vào tình hình thực tiễn của nhà trƣờng Việt Nam, chúng tôi chỉ nghiên cứu việc vận dụng phƣơng pháp LdL trong giới hạn là một phƣơng pháp dạy học đƣợc sử dụng cho các bài học trên lớp của môn Ngữ văn ở trƣờng trung học phổ thông. Để tạo ra cái nhìn khách quan về tính khả thi của việc vận dụng phƣơng pháp đối với môn học, các phân tích, đánh giá của chúng tôi chủ yếu dựa trên bộ SGK chƣơng trình chuẩn và các đối tƣợng HS theo học bộ sách này. Việc khảo sát, thử nghiệm đƣợc chúng tôi tiến hành ở một số trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Nam Định, chủ yếu là trƣờng THPT Trần Hƣng Đạo. Câu hỏi nghiên cứu.
Nên vận dụng phƣơng pháp LdL trong môn Ngữ văn THPT ở nhà trƣờng Việt Nam hiện nay nhƣ thế nào ? 9. Giả thuyết nghiên cứu.