phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ vào dạy học Tập làm văn lớp 6 Trung học cơ sở. Chƣơng 2: Vận dụng thiết kế một số bài Tập làm văn lớp 6 theo lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Chƣơng 3: Thực nghiệm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CỦA HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ 1. Giao tiếp và hoạt động giao tiếp trong đời sống xã hội 1.
Giao tiếp, nhu cầu thiết yếu của con người Giao tiếp có nghĩa là tiếp xúc, trao đổi thông tin, bộc lộ tư tưởng tình cảm với nhau. Giao tiếp là một nhu cầu thiết yếu của con người. Trẻ mới sinh ra bắt đầu được giao tiếp tuy nhiên còn mang tính chất thụ động. Bà mẹ hiểu nhu cầu ấy là của mình và cả con.
Việc giao tiếp biểu hiện qua lời ru, những lời mắng yêu con. Điều đó chứng tỏ bà mẹ đã có ý thức giao tiếp với con mình dù lúc này trẻ chỉ tiếp nhận hoạt động giao tiếp của người mẹ một cách thụ động. Quá trình tuổi thơ, việc giao tiếp của trẻ không ngừng phát triển từ thụ động chuyển sang chủ động. Nếu mới sinh ra trẻ chỉ có thể im lặng trước những hành động, lời nói của người mẹ thì giờ đây trẻ đã muốn nghe hát, nghe kể chuyện, muốn hiểu biết về thế giới: ông bà, con gà, cái bánh… Trẻ có nhu cầu được nghe, được tìm hiểu về những vật đã gọi tên dù lúc này trẻ chưa ý thức được một cách đầy đủ về sự vật đang gọi tên.
Chẳng hạn trẻ gọi tên cái bánh thì trẻ chỉ biết đó là thứ có thể ăn được chứ không ý thức được hết là nó làm từ nguyên liệu gì, cách thức làm ra sao. Mặc dù vậy ta cũng phải công nhận một điều rằng lúc này hoạt động giao tiếp ở thể chủ động của trẻ đang dần dần được hình thành. Dù chưa được hình thành một cách hoàn chỉnh nhất nhưng đây là tiền đề, là cơ sở quan trọng để tiến hành những hoạt động giao tiếp sau này. Tiếp đó là tư duy của trẻ được tích lũy, từ tuổi thơ ngôn ngữ của trẻ cũng được hình thành mà ngôn ngữ và tư duy là hai nhân tố giao tiếp giúp con người ứng xử được với hoàn cảnh, tồn tại 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với hoàn cảnh sống.
Ngôn ngữ là phương tiện dùng để diễn tả những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của con người. Chẳng hạn câu “Tôi rất muốn cùng bạn đi du lịch khắp nơi”. Qua câu nói này thì người nói muốn truyền đạt đến người nghe hai vấn đề. Thứ nhất nói về ước muốn của bản thân là được đi du lịch, thứ hai là tác động tình cảm đến người nghe muốn người nghe chấp nhận là cùng đi du lịch với mình.
Qua đây còn thể hiện tình cảm, cảm xúc của người nói. Như vậy để diễn đạt được nội dung của câu nói trên thì ta cần phải biết ngôn ngữ tương ứng đồng thời phải có tư duy để có thể sử dụng vốn ngôn ngữ phù hợp với nội dung diễn đạt để không những truyền đạt được ước muốn của bản thân mà còn phải tạo được tác dụng thuyết phục người nghe. Có thể nói ngôn ngữ và tư duy là hai nhân tố quan trọng để thực hiện quá trình giao tiếp và hai nhân tố này có quan hệ mật thiết với nhau cùng hỗ trợ cho nhau để thực hiện giao tiếp. Đây cũng là yếu tố quan trọng để phân biệt con người và loài vật bởi vì giao tiếp của loài vật là do bản năng chứ không phải là hoạt động có ý thức như con người.
Giao tiếp là phương thức tồn tại phát triển của xã hội. Xã hội là một tập thể có quan hệ với nhau về nhiều mặt: quan hệ họ hàng, quan hệ đồng nghiệp, quan hệ thầy trò… Các mối quan hệ này là lí do để con người có quan hệ giao tiếp với nhau. Giao tiếp trái lại để giữ vững các mối quan hệ đó. Con người không được giao tiếp với nhau thì không thể có xã hội.
Xã hội là môi trường để con người có thể thực hiện quá trình giao tiếp. Cơ sở đánh giá một xã hội phát triển là dựa trên cơ sở vật chất, tinh thần ngày càng thêm đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu đời sống con người. Sản phẩm vật chất, tinh thần chính là thành quả sáng tạo của con người. Sự sáng tạo ấy có được từ tư duy, trình độ sáng tạo.
Con người có điều đó là nhờ giao tiếp, học tập. Những người trong cùng một xã hội muốn trao đổi thông tin hay bộc lộ cảm xúc cho nhau thì cần phải có giao tiếp. Ngược lại hoàn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cảnh xã hội chính là nguyên nhân, động lực để tạo nên hoạt động giao tiếp. Thông qua hoạt động giao tiếp thì xã hội được tồn tại và ngày càng phát triển.
Người đời trước có thể truyền kinh nghiệm, kiến thức cho người đời sau thông qua giao tiếp. Mỗi một người là một thành viên của xã hội, xã hội muốn tồn tại thì mỗi con người cần phải phát triển và sự phát triển này được thực hiện thông qua quá trình giao tiếp. Trong hoạt động giao tiếp con người vừa có thể tiếp nhận thông tin từ người khác đồng thời có thể phản hồi những ý kiến của bản thân. Chính sự phản hồi này là điều kiện để người giao tiếp điều chỉnh nội dung giao tiếp cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Phạm vi giao tiếp của con người rất rộng. Giao tiếp với tự nhiên và giao tiếp trong xã hội. Giao tiếp với các hiện tượng tự nhiên con người nhận ra quy luật của nó giúp con người có ứng xử phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của mình. Chẳng hạn khi thấy trời kéo mây đen thì con người biết là trời sắp mưa.
Từ đó họ sẽ có cách xử lí là lấy quần áo vào để khỏi bị ướt. Ta thấy rằng dù ngày nay khoa học kĩ thuật ngày càng hiện đại, ngày càng phục vụ đắc lực cho cuộc sống của con người nhưng bên cạnh đó thì yếu tố tự nhiên cũng đóng vai trò khá quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Tất cả các hiện tượng tự nhiên đều tồn tại trực tiếp, thường xuyên trong cuộc sống của con người cho nên để có thể tồn tại thì con người cần phải thực hiện hoạt động giao tiếp với tự nhiên, đồng thời hoạt động giao tiếp này sẽ giúp cho con người hình thành ý thức và năng lực nhằm để cải tạo tự nhiên phục vụ cho cuộc sống của mình. Song song với giao tiếp tự nhiên thì con người luôn giao tiếp với xã hội.
Giao tiếp trong xã hội mang tính chất đa dạng, phong phú, con người có thể giao tiếp trong mọi hoàn cảnh: trong một gia đình cha mẹ giao tiếp với con cái về những sinh hoạt hàng ngày, các đồng nghiệp giao tiếp với nhau về công việc hoặc là độc giả có thể giao tiếp với các vấn đề xã hội 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua báo chí, sách vở. Con người còn có khả năng giao tiếp với người xưa. Qua những tác phẩm của người xưa để lại ta biết được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của họ và hiện thực xã hội thời đó. Ví dụ như đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du ta biết được những bất công ngang trái đang đè nặng lên người phụ nữ đồng thời còn thấy được tấm lòng nhân đạo của tác giả.
Không những chỉ giao tiếp với người xưa mà con người còn có thể giao tiếp với cả thế hệ mai sau như những tác phẩm trong hiện tại bấy giờ có thể truyền đến cho người đọc ở cả tương lai. Con người giao tiếp ở mọi nơi, học tập được nhiều điều nhưng quan trọng nhất là giao tiếp trong trường học, ở đó con người được mở rộng những hiểu biết mang tính lí luận, khoa học. Ta thấy rằng ngay từ những câu ca dao, tục ngữ mà ta được học trong nhà trường đã có tác dụng định hướng cho con người vào hoạt động giao tiếp. Ví dụ: Học ăn học nói, học gói học mở.
Chỉ ra việc ta phải học hỏi mọi thứ trong cuộc sống, trong đó có việc học cách nói năng tức là học cách giao tiếp trong đời sống xã hội. Hay là Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Ngôn ngữ là tài sản chung của mọi người, con người có quyền tự do lựa chon vốn ngôn ngữ riêng cho bản thân mình. Cho nên khi nói ta phải biết lựa những lời nói nào cho phù hợp nhất để không những truyền đạt được thông tin mà còn tác dụng thuyết phục ở người tiếp nhận thông tin.
Ở đây đã chỉ ra cách thức giao tiếp là ta phải biết lựa chọn nội dung giao tiếp cho phù hợp với từng hoàn cảnh, từng đối tượng để đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chim khôn hót tiếng rảnh rang Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe. Vàng thì thử lửa thử than Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời. Qua lời nói thì người ta có thể đánh giá về phẩm chất của một con người cho nên khi nói phải biết lựa chọn lời nói cho phù hợp.
Như vậy vai trò của hoạt động giao tiếp không chỉ truyền đạt thông tin mà qua đó còn đánh giá được phẩm chất của một con người. Như vậy, từ lâu con người đã ý thức đúng về vai trò, tác dụng của hoạt động giao tiếp. Người xưa đã đưa ra những lời khuyên hữu ích cho con người như: nói cũng phải học, nói đúng còn thể hiện tư cách của một con người, nói sao cho người nghe thấy được cái hay, cái đẹp. Trong phẩm chất đạo đức có ngôn ngữ, lời nói.
Người xưa chưa đưa ra được những phương pháp để con người luyện tập, rèn giũa lời nói của mình nhưng rõ ràng giao tiếp từ lâu đã được ý thức là hết sức quan trọng trong đời sống. Trường học còn là nơi cung cấp những tri thức, hiểu biết cho con người thông qua hoạt động giao tiếp. Ở đây diễn ra hoạt động giao tiếp giữa giáo viên và học sinh, giữa giáo viên với giáo viên và giữa học sinh với nhau. Tất cả những hoạt động giao tiếp này được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng tất cả đều nhằm mục đích là cung cấp, trao đổi thông tin.