CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VẬN DỤNG VÀO CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1. Các vấn đề chung của kế toán quản trị 1.1 Khái niệm về kế toán quản trị Hầu hết những cá nhân không thuộc lĩnh vực kinh tế khi nghe đến từ kế toán thì trong đầu chỉ nghĩ rằng đó là một công việc đơn điệu của việc ghi chép lại những nghiệp vụ kinh tế phát sinh của đơn vị trong một kỳ kế toán với thực tế phát triển hiện nay thì những suy nghĩ như vậy không còn phù hợp với tình hình phát triển kế toán hiện nay. Ngày nay, kế toán được xem như là một công cụ quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho nhà quản lý nhằm mục đích: o Thứ nhất: Thuyết minh rõ ràng và chính xác các chiến lược cũng như các kế hoạch phát triển lâu dài của tổ chức. o Thứ hai: Hỗ trợ việc phân bổ các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) của tổ chức một cách hợp lý và có hiệu quả nhất.
o Thứ ba: Lập kế hoạch chi phí và kiểm soát chi phí đối với các mặt hoạt động và trong quá trình sản xuất. o Thứ tư: Đo lường và đánh giá trách nhiệm cá nhân. o Thứ năm: Lập các báo cáo theo qui định của chế độ báo cáo nhà nước. Trong năm mục tiêu trên thì mục đích cuối cùng thuộc về kế toán tài chính, còn lại là thuộc lĩnh vực nghiên cứu của kế toán quản trị.
[21,9] “Như vậy khi nói đến một hệ thống kế toán đầy đủ sẽ gồm hai bộ phận chính là kế toán tài chính và kế toán quản trị.” [12,11] Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị: Theo luật kế toán (2003) thì kế toán quản trị được định nghĩa như sau: “kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo thông tư 53/2006/TT-BTC, khái niệm về kế toán quản trị còn chi tiết thêm: kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp như: chi phí từng bộ phận, từng công việc, sản phẩm, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài chính, vật tư, tiền vốn, công nợ; phân tích mối quan hệ giữa chi phí, với khối lượng và lợi nhuận; lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh; … nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định. Theo định nghĩa của viện kế toán quản trị Hoa Kỳ: “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức, và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó”. Theo định nghĩa của Robert S,Kaplan và Anthony A.Atkinson: “Kế toán quản trị là hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho những nhà quản lý trong viêc lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của đơn vị.
Hoạt động của kế toán quản trị bao gồm việc thu thập, sắp xếp, phân loại, xử lý, phân tích và báo cáo thông tin cho nhà quản trị. Không như thông tin do kế toán tài chính cung cấp cho những người sử dụng bên ngoài đơn vị như nhà đầu tư, chủ nợ nhà cung cấp và cơ quan thuế, thông tin kế toán quản trị giúp cho việc ra quyết định trong nội bộ đơn vị”. [28,1] Theo từ điển thuật ngữ kế toán của R.H parker (1992): “Kế toán quản trị là một bộ phận của kế toán, liên quan đến việc cung cấp các báo cáo nội bộ cho nhà quản trị doanh nghiệp. Nó nhấn mạnh đến việc kiểm soát và ra quyết định hơn là phục vụ cho khía cạnh về kế toán.
Nó không chịu sự chi phối bởi các chuẩn mực kế toán và thông lệ. Nó có thể là tương phản với kế toán tài chính.” [30,182] Nói tóm lại, kế toán quản trị là trong 2 bộ phận chính của kế toán và nhiệm vụ chính của kế toán quản trị là phân tích cung cấp thông tin cho nhà quản trị đơn vị và quản lý bộ phận.2 Sự ra đời và phát triển của kế toán quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Quá trình ra đời và phát triển của kế toán quản trị có thể chia thành những giai đoạn chính sau đây: Giai đoạn 1: Trước năm 1950 Kế toán quản trị chủ yếu quan tâm tới việc xác định chi phí và kiểm soát tài chính thông qua các việc sử dụng kỹ thuật dự toán và kế toán chi phí. Giai đoạn 2: từ năm 1950 đến 1965 Sự quan tâm của KTQT đã chuyển sang việc cung cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật như phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm Giai đoạn 3: từ sau năm 1965 đến năm 1995 KTQT chủ yếu tập trung vào việc làm giảm hao phí nguồn lực sử dụng trong các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật phân tích quá trình và quản lý chi phí. Giai đoạn 4: từ năm 1995 đến nay KTQT quan tâm vào việc tạo ra giá trị bằng việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị cho khách hàng, giá trị cho cổ đông và sự thay đổi của tổ chức.
Tuy sự phát triển của KTQT được gi nhận ở bốn giai đoạn nhưng sự thay đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của quá trình đó đan xen vào nhau và chuyển hóa dần dần, mỗi giai đoạn của quá trình phát triển thể hiện sự thích nghi với những điều kiện mới tạo ra cho tổ chức, thể hiện bằng sự hòa nhập, kết cấu lại và bổ sung thêm vào những nội dung quan tâm và sử dụng kỹ thuật đã được sử dụng trước đó. Mỗi giai đoạn là sự kết hợp giữa cái cũ và cái mới, trong đó cái cũ được kết cấu lại cho phù hợp với cái mới theo ý nghĩa các điều kiện mới của môi trường quản trị. [20,3] Những điểm khác biệt của vai trò KTQT trong hoạt động tổ chức qua bốn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 giai đoạn phát triển của KTQT là: Giai đoạn 1, KTQT được xem như một kỹ thuật cần thiết nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức Giai đoạn 2, KTQT được xem là một hoạt động quản lý, nhưng có vai trò gián tiếp: KTQT bao hàm sự hỗ trợ của nhà quản trị gián tiếp đối với nhà quản trị trực tiếp thông qua việc cung cấp thông tin để lập kế hoạch và kiểm soát. Giai đoạn 3 và giai đoạn 4, KTQT được xem là một bộ phận cấu thành quá trình quản lý, vì tất cả các nhà quản trị đều có thể trực tiếp tiếp cận với thông tin và sự phân biệt giữa nhà quản trị trực tiếp và nhà quản trị gián tiếp cũng dần bị xóa bỏ 1.3 Mối liên hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính Kế toán quản trị và kế toán tài chính là hai phân hệ của hệ thống kế toán trong một tổ chức, cả hai hệ thống kế toán có những điểm giống nhau như sau: Cùng đối tượng nghiên cứu là các sự kiện kinh tế diễn ra trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán. Đều thể hiện trách nhiệm của nhà quản trị trong toàn doanh nghiệp. Bên cạnh những đặc điểm chung thì giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị có những đặc điểm khác biệt như sau: Đối tượng sử dụng thông tin và mục đích Đối tượng sử dụng thông tin kế toán quản trị chủ yếu là các nhà quản trị ở bên trong doanh nghiệp thông tin phục vụ việc trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh, trong khi đó đối tượng chủ yếu mà kế toán tài chính cung cấp là thông tin là những người bên ngoài doanh nghiệp mục đích để lập báo cáo tài chính. Đặc điểm và yêu cầu thông tin Thông tin của kế toán quản trị chủ yếu hướng đến tương lai.
Do đó, thông tin của kế toán quản trị thường mang tính linh hoạt, kịp thời và thích hợp với từng loại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 quyết định, không tuân thủ theo nguyên tắc kế toán, không đòi hỏi có độ chính xác tuyệt đối. Thông tin kế toán tài chính hướng về quá khứ và tuân thủ theo những nguyên tắc kế toán. Đòi hỏi tính trung thực cao khi phản ánh các sự kiện kinh tế, do đó các thông tin kế toán tài chính mang tính khách quan và độ chính xác cao. Phạm vi cung cấp thông tin và các loại báo cáo Kế toán quản trị gắn với các bộ phận của doanh nghiệp, vì vậy các loại báo cáo tùy theo mục đích sử dụng của từng bộ phận trong doanh nghiệp và không phụ thuộc vào chế độ báo cáo của nhà nước.
Trong khi đó kế toán tài chính gắn liền với toàn doanh nghiệp và cung cấp cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, do vậy kế toán tài chính tuân theo quy định của nhà nước và các loại báo cáo tuân theo quy định của nhà nước. Kỳ hạn lập báo cáo Báo cáo của kế toán quản trị được lập thường xuyên tùy theo yêu cầu quản lý trong khi đó báo cáo của kế toán tài chính được lập định kỳ theo chế độ kế toán. Quan hệ với các ngành học khác Kế toán tài quản trị mở rộng và mang tính linh hoạt trong việc cung cấp thông tin hơn so với kế toán tài chính, do vậy kế toán quản trị có mối quan hệ với các ngành khoa học như hệ thống thông tin kế toán, thống kê, quản trị, tài chính trong khi đó kế toán tài chính được trình bày, sắp xếp, và ghi nhận theo những phương pháp riêng của mình, do đó kế toán tài chính ít có quan hệ với các ngành học khác hơn.