CHƯƠNG 1: PHÁT HIỆN VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 1.1 Tổng quan công ty 1.1 Khái quát về công ty Tên công ty: Công ty Cổ phần Trang. Loại hình: Công ty cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch Hà Nội (HNX). Mã chứng khoán giao dịch: TFC. Địa điểm: Lô A14b KCN Hiệp Phước, xã Long Thới, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Quá trình hình thành: - Công ty Cổ phần Trang được thành lập vào tháng 07/2004, là thành viên của TrangGroup - một tập đoàn đa quốc gia với tiêu chí cung cấp những dịch vụ và mặt hàng về thủy hải sản chế biến chất lượng cao cho thị trường thế giới. - Kể từ khi thành lập với vốn điều lệ ban đầu là 20.000 đồng, Công ty Cổ phần Trang đã không ngừng phát triển và trải qua 5 lần tăng vốn điều lệ để bổ sung vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu tư, vốn điều lệ hiện tại là 168. - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty cũng tăng trưởng qua các năm như hình bên dưới. DOANH THU - ĐVT: triệu đồng 500,000 452,413 455,609 450,000 420,992 432,838 400,000 344,201 350,000 329,276 300,000 250,000 207,044 200,000 150,000 100,000 50,000 - 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Tăng trưởng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ qua các năm (nguồn: website công ty cổ phần Trang) Thị trường chính của công ty là các nước khu vực UK, Úc, Mỹ và một số nước châu Á.
Trong đó doanh thu thị trường UK chiếm khoảng 60%, thị trường Mỹ chiếm 20%, thị trường Úc chiếm 10% còn lại là thị trường Châu Á. Tầm nhìn và sứ mệnh: - Tạo ra những sản phẩm riêng biệt, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. - Luôn tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng mức cao nhất. - Trở thành một nhà sản xuất, đối tác tin cậy trong ngành chế biến thực phẩm chất lượng cao.
- Phát triển đi cùng trách nhiệm với cộng đồng, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. - Đảm bảo mức chia lợi tức cho cổ đông ở mức cao nhất so với với các công ty cùng lĩnh vực sản xuất. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Cơ cấu tổ chức: Hội đồng cổ đông Ban kiểm soát Hội đồng quản trị Tổng giám đốc Giám đốc chất lượng Giám đốc điều hành Giám đốc tài chính Kiểm soát nội bộ Giám đốc điều phối DASUM DARY Y TP quản lý GĐ sản GĐ Phát GĐ nhân sự GĐ Thu GĐ kinh chất lượng xuất triển SP mua doanh BP. Kế Kế Cơ Sản HC Thu Bao Kinh Pháp toán QA hoạch RD XNK toán điện xuất NS mua bì doanh chế TC QT Hình 1.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty cổ phần Trang (nguồn: website công ty TFC) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Đặc điểm hoạt động Công ty Cổ phần Trang hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm vốn có tính cạnh tranh rất cao.
Sản phẩm Công ty 100% phục vụ cho xuất khẩu, Công ty sản xuất theo đơn đặt hàng, trung bình hàng ngày sản xuất 2-3 sản phẩm, để giảm chi phí thuê kho sản phẩm sản xuất ra thường tiêu thụ ngay, tồn kho cho phép là 5 ngày sau ngày nhập kho thành phẩm. Ban lãnh đạo công ty cũng đồng quan điểm này nên luôn chú trọng, quan tâm đến việc nâng cao vị thế cạnh tranh. Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Trang đang thực sự quan tâm đến chi phí cho một sản phẩm và các hoạt động nào có thể cắt giảm để nâng cao tính cạnh tranh trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay. Các năm qua, Công ty đang không ngừng phát triển và cải tiến quy trình sản xuất theo hướng tự động hóa vì thế chi phí hoạt động các năm vừa qua cũng tăng đáng kể.
Nhu cầu quản trị về chi phí ngày càng được Ban lãnh đạo chú tâm đến và hệ thống kế toán chi phí được kỳ vọng sẽ trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho Ban lãnh đạo. Ban lãnh đạo kỳ vọng sẽ có được thông tin chi phí sản phẩm chính xác để có chiến lược cạnh tranh và kiểm soát chi phí phù hợp. Tuy nhiên một thực tế đáng lo ngại là hệ thống kế toán chi phí hiện tại có đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin hỗ trợ cho Ban lãnh đạo hay không và Ban lãnh đạo liệu có thể yên tâm tin tưởng vào thông tin do hệ thống kế toán chi phí cung cấp hay không? Qua quá trình tìm hiểu thực tế tại công ty tác giả nhận thấy rằng hệ thống kế toán chi phí hiện tại vẫn còn mang đậm dấu ấn của hệ thống kế toán chi phí truyền thống (TDC). Chi phí sản xuất được tập hợp theo quy trình sản xuất và được tập hợp theo ba nhóm chính chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (chi phí 621), chi phí nhân công trực tiếp (chi phí 622), chi phí sản xuất chung (chi phí 627), các chi phí nhân công trữ tiếp và chi phí sản xuất chung được phân bổ đến sản phẩm chỉ bằng một tiêu thức phân bổ thông qua sản lượng.
Với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường sản xuất kinh doanh, khoa học kỹ thuật công nghệ thì phương pháp kế toán chi phí này đã không còn phù hợp nữa. Từ đó, Ban lãnh đạo cũng đã không còn sử dụng thông tin từ hệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thống kế toán chi phí để làm cơ sở ra quyết định nữa mà tự xây dựng cho riêng họ một hệ thống riêng độc lập, tuy nhiên hệ thống này cũng rất hạn chế và thủ công. Năm Chi phí trực tiếp Chi phí gián tiếp Chi phí Tỷ lệ Chi phí Tỷ lệ 2005 11.1 Chi phí hoạt động tại Công ty Cổ phần Trang 1.2 Sự cần thiết vận dụng ABC tại Công ty Cổ phần Trang Phương pháp TDC đã ra đời vào những năm 1870 – 1920 lúc đó khoa học kỹ thuật chưa phát triển, quy trình sản xuất còn đơn giản, chi phí nhân công trực tiếp chiếm tỷ trọng cao và chi phí gián tiếp chiếm tỷ trọng thấp theo Ali Khozein and Morteza Dankoob (2011). Cũng theo như Ali Khozein and Morteza Dankoob (2011) thì cách tiếp cận của hệ thống tính giá thành truyền thống cơ bản gồm 3 bước: Bước 1: Tập hợp chi phí cho các bộ phận sản xuất và ngoài sản xuất.
Bước 2: Phân bổ chi phí bộ phận ngoài sản xuất đến bộ phận sản xuất (nếu có). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Bước 3: Phân bổ chi phí của bộ phận sản xuất đến sản phẩm, dịch vụ, khách hàng,…trong đó chỉ sử dụng một tiêu thức phân bổ đơn lẻ, thông thường là dựa trên sản lượng sản xuất trong kỳ. Việc này không phản ánh được chính xác sự đóng góp của chi phí gián tiếp vào việc tạo ra sản phẩm hay dịch vụ vì chi phí gián tiếp có nhiều khoản mục với bản chất khác nhau và có mức độ, vai trò đóng góp khác nhau vào việc tạo ra sản phẩm. Chi phí có được từ phương pháp này bị một số khiếm khuyết có thể dẫn đến chi phí bị bóp méo cho các mục đích ra quyết định.
Ví dụ như chi phí được phân bổ cho một sản phẩm trong khi quá trình sản xuất sản phẩm đó không sử dụng nguồn tài nguyên này. Huỳnh Lợi (2009) đã tổng kết lại những hạn chế của hệ thống tính giá thành truyền thống trong môi trường kinh doanh hiện đại: Thứ nhất: chỉ dừng lại và đảm bảo thông tin cho 2 mục tiêu định giá vốn và thông tin kiểm tra, giám sát sau khi hoạt động sản xuất đã kết thúc, không đảm bảo cho nhu cầu quản trị định hướng sản xuất nhất là trong trường hợp công nghệ sản xuất kinh doanh thay đổi nhanh chóng, chu kỳ sản phẩm ngắn ngủi, giá cả đầu vào biến động phức tạp. Thứ hai: kỹ thuật tính giá thành truyền thống là quá phức tạp (nhiều phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang, nhiều phương pháp tính giá thành) từ đó dễ dẫn đến khả năng thông tin giá thành bị bóp méo do thay đổi chủ quan phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang hay phương pháp tính giá thành, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyết định quản trị về giá vốn, về kết quả kinh doanh, về kết quả tài chính và trách nhiệm của những người quản lý bộ phận sản xuất. Ngoài ra với kỹ thuật tính giá thành truyền thống vừa phức tạp vừa trùng lắp trong tính toán (tính giá thành đơn vị 2 lần – lần 1 khi tính chi phí sản xuất dở dang, lần 2 khi tính giá thành).
Thứ ba: Phiếu tính giá thành kế toán truyền thống vừa khó quan sát, khó kiểm soát chi phí vì chi phí đầu vào lẫn với chi phí đầu ra. Thứ tư: hệ thống tính giá thành truyền thống chỉ cung cấp thông tin giá thành thực tế nên dẫn đến nhận thức sai lầm về tính chuyên môn của kế toán chi phí và tính giá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 thành trong hệ thống kế toán chi phí. Kế toán chi phí và tính giá thành là công việc của kế toán tài chính nên cũng dẫn đến sự ràng buộc khắt khe của chính sách kế toán đến hệ thống kế toán chi phí và tính giá thành, làm cho hệ thống trở nên lạc hậu, kém tính linh hoạt, hạn chế về thông tin quản trị. Ngày nay với một môi trường sản xuất kinh doanh thay đổi từng ngày từng giờ, các kỹ thuật công nghệ ngày càng tiến bộ và dần thay thế quá trình sản xuất thủ công.
Chính vì thế chi phí gián tiếp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và thu hẹp dần tỷ trọng chi phí trực tiếp. Với những phân tích trên, quả thật áp dụng hệ thống kế toán chi phí và tính giá thành truyền thống trong môi trường kinh doanh hiện nay sẽ rất hạn chế trong việc cung cấp thông tin cho nhà quản trị, nhất là các thông tin định hướng sản xuất khi môi trường kinh doanh, dòng đời sản phẩm thay đổi. Trong quá trình phát triển của kế toán bài toán được nhiều nhà nghiên cứu đặt ra là cần thay đổi hệ thống kế toán chi phí và tính giá thành theo hướng nâng cao tính quản trị. Thực trạng ở Công ty Cổ phần Trang cũng không ngoại lệ.
Công ty thành lập năm 2004 với mục đích là cung cấp các sản phẩm thực phẩm chất lượng cao cho thị trường Úc. Vào những năm đầu công ty chủ yếu sản xuất thủ công nên trong chi phí giá thành thì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn gần như toàn bộ giá thành.