CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (ECONOMIC VALUE ADDED – EVA) 1. Tổng quan về thước đo giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) 1. Khái niệm Giá trị kinh tế tăng thêm là thước đo phần thu nhập tăng thêm từ chênh lệch giữa lợi nhuận hoạt động trước lãi vay sau thuế và chi phí sử dụng vốn. Các cơ sở khái niệm của EVA dựa trên các phân tích mối quan hệ chi phí-lợi ích đơn giản rằng một hoạt động tạo ra giá trị khi lợi nhuận vượt quá chi phí vốn được sử dụng để tạo ra lợi nhuận.
EVA là một số tiền cụ thể. Nếu số tiền là tích cực, công ty đã giành được thu nhập hoạt động sau thuế cao hơn so với chi phí của các tài sản được sử dụng để tạo ra thu nhập. Nói cách khác, công ty đã tạo ra sự giàu có. Nếu số tiền EVA là tiêu cực, công ty tiêu thụ vốn, chứ không phải là tạo ra sự giàu có.
Mục tiêu của công ty là EVA có tích cực và nỗ lực gia tăng EVA. Vốn đầu tư là số vốn doanh nghiệp cần phải có để thực hiện hoạt động đầu tư hay hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Về nguyên tắc thì vốn đầu tư nên được xác định theo giá thị trường. Và EVA được tính dựa trên khái niệm lợi nhuận kinh tế, không phải lợi nhuận kế toán.
Cơ sở để tính chi phí sử dụng vốn là lãi suất sử dụng vốn và số vốn sử dụng. Chi phí vốn có thể được định nghĩa là tỷ lệ tối thiểu được nhận trở lại theo yêu cầu của người cho vay và cổ đông, và thay đổi theo rủi ro của công ty (Stewart, 1995). Dưới góc độ tài chính thì lãi suất sử dụng vốn được xác định từ thị trường vốn. Lãi suất sử dụng vốn đối với nhà đầu tư là tỷ suất sinh lời mà họ đòi hỏi khi cung cấp vốn.
Mức sinh lời này phải tương ứng với mức độ rủi ro mà nhà đầu tư có khả năng gặp phải khi cung cấp vốn. Lãi suất sử dụng vốn đối với doanh nghiệp là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư tối thiểu cần phải đạt được để đảm bảo duy trì tỷ suất lợi nhuận trên vốn và tạo ra giá trị tăng thêm cho cổ đông. Lãi suất sử dụng vốn phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố: tính mạo hiểm của việc sử dụng vốn, lãi suất của các khoản nợ phải trả, cấu trúc vốn của doanh nghiệp, chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 sách phân phối lợi nhuận…Vì vậy, khi tính toán lãi suất sử dụng vốn cần phải lượng hoá được lãi suất bình quân của tất cả các nguồn tài trợ (WACC). Công thức tính toán Thước đo EVA có giá trị khác biệt so với lãi ròng.
EVA là lợi nhuận thực của hoạt động kinh doanh có tính đến chi phí của tất cả các nguồn vốn, kể cả chi phí vốn chủ sở hữu. Trong khi đó, lãi ròng mới chỉ tính đến chi phí sử dụng vốn của nợ. Do đó, EVA là thước đo kết quả hoạt động của doanh nghiệp tốt hơn so với lợi nhuận kế toán. Trong tính toán EVA thì một điều rất quan trọng là phải xác định được chi phí vốn chủ sở hữu.
Tuy nhiên, chi phí vốn chủ sở hữu chỉ có thể ước tính (không có công thức tính chính xác) bằng việc kết hợp sử dụng các phương pháp khác nhau như: mô hình cổ tức tăng trưởng với tốc độ không đổi, mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), sử dụng lãi suất phi rủi ro hoặc chi phí vốn của nợ cộng với phần bù rủi ro (phần thưởng rủi ro). Công thức xác định EVA : EVA = NOPAT – (TC x WACC) Với: - NOPAT: Lợi nhuận trước lãi vay và sau thuế - TC: Total capital – Vốn đầu tư - WACC: Lãi suất sử dụng vốn bình quân 1. Phương pháp tính EVA dựa trên số liệu kế toán Bước 1: Tính lợi nhuận hoạt động trước lãi vay và sau thuế (Net Operating Profit after tax - NOPAT) Lợi nhuận trước lãi vay và sau thuế (Net Operating Profit after tax - NOPAT) của một doanh nghiệp được lấy từ Báo cáo xác định kết quả kinh doanh. NOPAT = Lợi nhuận sau thuế + lãi vay x ( 1- thuế suất thuế TNDN) Ví dụ : Chỉ tiêu Dự án 1 Dự án 2 Vay ( lãi suất 10%) - 3.000 Chi phí lãi vay 0 300 Lợi nhuận trước thuế 1.000 700 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Thuế TNDN ( TS 25%) 250 175 Lợi nhuận sau thuế 750 525 NOPAT 750 750 Bước 2: Tính vốn đầu tư (Total Invested capital – TC) Chúng ta tính vốn đầu tư dựa vào số liệu Bảng cân đối kế toán trong kỳ, đơn giản đó chính là tổng tài sản của doanh nghiệp.
Nhưng trong một số mục đích vận dụng EVA khác nhau, chỉ số vốn đầu tư này có thể được xác định bằng cách lấy tổng tài sản trừ Nợ ngắn hạn, lấy tổng tài sản trừ Nợ ngắn hạn không tính lãi, lấy giá trị tổng tài sản đang sử dụng… Các nhân tố ảnh hường tới cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. Trong thực tế, các doanh nghiệp ở các ngành khác nhau, thậm chí các doanh nghiệp trong cùng một ngành cũng có cơ cấu vốn cách biệt rất xa, sự cách biệt này, phản ánh một số điều kiện như: sự dao động của doanh thu, cơ cấu tài sản, thái độ của người cho vay và mức độ chấp nhận rủi ro của người lãnh đạo. - Sự ổn định của doanh thu và lợi nhuận: Có ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô của vốn huy động. Khi doanh thu ổn định sẽ có nguồn để lập quỹ trả nợ đến hạn, khi kết quả kinh doanh có lãi sẽ là nguồn để trả lãi vay.
Trong trường hợp này tỷ trọng của vốn huy động trong tổng số vốn của doanh nghiệp sẽ cao và ngược lại. - Cơ cấu tài sản: Tài sản cố định là loại tài sản có thời gian thu hồi vốn dài, do đó mà nó phải được đầu tư bằng nguồn vốn dài hạn (vốn chủ sở hữu và vay nợ dài hạn). Ngược lại, tài sản lưu động sẽ được đầu tư một phần của nguồn vốn dài hạn, còn chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn. - Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành; Những doanh nghiệp nào có chu kỳ sản xuất dài , vòng quay của vốn chậm thì cơ cấu vốn sẽ nghiêng về vốn chủ sở hữu ( hầm mỏ, khai thác, chế biến … ) Ngược lại những ngành nào có mức nhu cầu về loại sản phẩm ổn định, ít thăng trầm vòng quay của vốn nhanh ( dịch vụ, bán buôn…) thì vốn được tài trợ từ các khoản nợ sẽ chiếm tỷ trọng lớn.
- Doanh lợi vốn và lãi suất vốn huy động: Khi doanh lợi vốn lớn hơn lãi suất vốn vay sẽ là cơ hội tốt nhất để gia tăng lợi nhuận doanh nghiệp , do đó khi có nhu cầu tăng vốn người ta thường chọn hình thức tài trợ từ vốn vay, từ thị trường vốn. Ngược LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 lại, khi có doanh lợi nhỏ hơn lãi suất vay thì cấu trúc vốn lại nghiêng về vốn chủ sở hữu. - Mức độ chấp nhận rủi ro của người lãnh đạo: Trong kinh doanh phải chấp nhận mạo hiểm có nghĩa là phải chấp nhận sự rủi ro, nhưng điều đó lại đồng nghĩa với cơ hội để gia tăng lợi nhuận (mạo hiểm càng cao thì rủi ro càng nhiều nhưng lợi nhuận càng lớn). Tăng tỷ trọng của vốn vay nợ, sẽ tăng mức độ mạo hiểm, bởi lẽ chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về doanh thu và lợi nhuận theo chiều hướng giảm sút sẽ làm cho cán cân thanh toán mất thăng bằng, nguy cơ phá sản sẽ hiện thực.
- Thái độ của người cho vay: Thông thường người cho vay thích các doanh nghiệp có cấu trúc vốn nghiêng về vốn chủ sở hữu hơn, bởi lẽ với cấu trúc này nó hứa hẹn sự trả nợ đúng hạn, một sự an toàn của đồng vốn mà họ bỏ ra cho vay. Khi tỷ lệ vốn vay nợ quá cao sẽ làm giảm độ tín nhiệm của người cho vay, do đó chủ nợ sẽ không chấp nhận cho doanh nghiệp vay thêm. Bước 3: Xác định lãi suất sử dụng vốn bình quân (Weighted Average Cost of Capital – WACC) Lãi suất sử dụng vốn bình quân (WACC) được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%), chính là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư tối thiểu cần phải đạt được khi sử dụng nguồn tại trợ. Để tính WACC, chúng ta cần tính lãi suất sử dụng nợ và lãi suất sử dụng vốn chủ sở hữu.
Lãi suất sử Tỷ trọng Tỷ trọng Lãi suất sử Lãi suất sử dụng vốn nợ trong vốn chủ = dụng nợ vay x + dụng vốn x bình quân tổng vốn trong tổng sau thuế chủ WACC đầu tư vốn đầu tư Hay WACC = rd* x Wd+re x We Với : rd* : Lãi suất sử dụng nợ vay sau thuế Wd : Tỷ trọng nợ vay trong cấu trúc vốn re : Lãi suất sử dụng vốn chủ We: Tỷ trọng vốn chủ trong cấu trúc vốn a. Lãi suất sử dụng nợ vay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Một trong những ưu thế sử dụng nợ vay so với các nguồn tài trợ bên ngoài khác là tiền lãi vay phải trả được trừ ra trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp (lá chắn thuế). Do lãi vay được khấu trừ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nên lãi suất sử dụng nợ vay cần được tính sau thuế - Lãi suất sử dụng nợ vay sau thuế (rd*) rd*=rd (1−T) T: là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Lãi suất sử dụng nợ vay trước thuế (rd) Như vậy, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp làm giảm đáng kể lãi suất sử dụng nợ vay, và lãi suất sử dụng nợ vay tỷ lệ thuận với thuế suất thuế thu nhập. Nhưng khi doanh nghiệp bị thua lỗ thì lãi suất sử dụng nợ vay trước và sau thuế bằng nhau, vì khi đó doanh nghiệp không thể giảm chi phí này ra khỏi “lợi nhuận”.
Lãi suất sử dụng vốn chủ Các mô hình tính lãi suất sử dụng vốn cổ đông b1. HPR (Holding Period Return) Cổ tức kỳ tới + (Giá cổ phiếu kỳ tới – Giá Lãi suất sử dụng cổ phiếu kỳ này) = vốn cổ đông Giá cổ phiếu kỳ này b2. CDVM (Constant Dividend Valuation Model) Cổ tức trả hàng kỳ Lãi suất sử dụng vốn cổ đông = Giá cổ phiếu kỳ này Hay: Cổ tức cổ phần rp = Pp x (1- % chi phí phát hành cổ phần ) Với: Pp là giá bán cổ phiếu b3.