phần mở đầu và kết luận, luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giá trị kinh tế tăng thêm (EVA). Chƣơng 2: Thực trạng đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh. Chƣơng 3: Vận dụng chỉ tiêu giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) trong đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (EVA - ECONOMIC VALUE ADDED) 1.
Tổng quan về chỉ tiêu giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) 1. Lịch sử hình thành và phát triển của chỉ tiêu EVA Ý tƣởng “giá trị kinh tế tăng thêm” (Economic Value Added - EVA) không phải là một khám phá mới. EVA về cơ bản không thể phân biệt đƣợc với khái niệm thu nhập còn lại (lợi nhuận trừ đi một khoản chi phí vốn cổ phần) đƣợc phát triển bởi các nhà kinh tế nhƣ Alfred Marshall trong những năm 1890. Thu nhập còn lại (RI- Residual Income) cũng đã đƣợc sử dụng tại các công ty trong nhiều năm.
Ví dụ, General Electric (GE) sử dụng thu nhập còn lại trong những năm 1950 và 1960 để đánh giá thành quả hoạt động. Tuy nhiên, khái niệm thu nhập còn lại đã không đƣợc quảng bá rộng rãi và cũng không trở thành công cụ đánh giá thành quả hoạt động hoàn hảo tại nhiều công ty. Nguồn gốc lý thuyết của EVA đƣợc tìm thấy trong các mô hình kinh tế của giá trị công ty đƣợc phát triển bởi Merton H.Miller (Đại học Chicago) và Franco Modigliani (MIT) đã đoạt giải Nobel. EVA cũng mang nhiều âm hƣởng từ hành vi tổ chức và chi phí cơ quan bởi Michael C.Jensen (Trƣờng Kinh doanh Harvard) và William H.
Câu chuyện bắt đầu với nghiên cứu đƣợc công bố đoạt giải Nobel của Merton H. Miller (Đại học Chicago) và Franco Modigliani (MIT) vào năm 1958, 1960, và năm 1961. Lần đầu tiên, các lý thuyết cơ bản của kinh tế vi mô đƣợc áp dụng trong tài chính doanh nghiệp và đã chỉ ra lý do tại sao các mô hình kinh tế của công ty, mà không phải khuôn khổ kế toán, đƣợc ƣa thích hơn. Họ đã chỉ ra rằng: - Điểm then chốt của giá trị là lợi nhuận kinh tế và tỷ suất lợi nhuận mong đợi tỷ lệ thuận với rủi ro.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Giá trị thị trƣờng của một công ty là kết quả của hành vi ở mức lợi nhuận hợp lý bởi nó điều khiển nhà đầu tƣ những ngƣời chi phối đến quá trình kỳ vọng trong định giá cổ phiếu. - Rủi ro về cơ cấu vốn có thể đƣợc tách biệt một cách độc lập với tài sản của một công ty hay rủi ro kinh doanh. Nhƣng có một điều mà Miller – Modigliani đã không làm là cung cấp một kỹ thuật để đo lƣờng lợi nhuận kinh tế của một công ty. Năm 1975, một bài báo hội thảo về lý thuyết cơ quan của giáo sƣ William Meckling (Đại học Rochester) và Michael Jensen (Trƣờng Kinh doanh Harvard), đột phá chính của họ là các nhà quản lý có thể đƣợc mong đợi gắn kết lợi ích cổ đông trong công việc của họ; các cổ đông và ngƣời cho vay sẽ phải chịu chi phí giám sát để chịu trách nhiệm tổ chức quản lý.
Và vào năm 1989, trong một bài báo Harvard Businsess Rewiew nổi tiếng với tựa đề “Sự suy yếu của các công ty đại chúng”, Jensen đã giải thích lý do các công ty giao dịch công khai sẽ biến mất vào Kohlberg Kravis Roberts (KKR)- kiểu cấu trúc liên kết chặt chẽ quyền chủ sở hữu và lợi ích nhà quản lý (KKR đƣợc hình thành từ bộ ba Henry, Kravis và George Roberts). Lý thuyết của Jensen đã tác động rõ rệt đến EVA. Theo Jensen, cấu trúc KKR là một sự đổi mới thành công: rất nhiều khoản nợ đƣợc mua đứt bằng tiền đi vay, cái mà làm cho nhà quản lý sau đó tập trung vào việc trả nợ, và có lẽ họ sẽ lặp đi lặp lại việc điều chỉnh cơ cấu vốn để duy trì mục tiêu tốt trong tƣơng lai. Tuy nhiên, Jensen chỉ quan tâm đến các công ty trong ngành công nghiệp trƣởng thành (nhƣ ngành thép, xi măng, ô tô.) và điều này không phải là một câu chuyện thành công của KKR (Al Ehrbar, 1998).
Sau một thời kỳ dài mang thai, EVA đã đƣợc đƣa ra bởi Công ty Stern Stewart trong năm 1989, nhƣng nó đã không nhận đƣợc nhiều sự chú ý cho đến ngày 20 tháng 9 năm 1993, tại bài báo của tạp chí FORTUNE (Tully, 1993) cung cấp mô tả chi tiết về khái niệm EVA, EVA thực sự là chìa khóa tạo ra sự giàu có, đƣợc xây dựng bởi Công ty Stern Stewart, và việc vận dụng thành công EVA tại các tập đoàn lớn ở Hoa Kỳ. Tiếp theo thành công tại Tạp chí Tully, EVA là công cụ mới trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đánh giá thành quả hoạt động tại nhiều công ty, hàng loạt các nghiên cứu liên quan đến EVA cũng đã đƣợc công bố trên các tạp chí khoa học, tạp chí thông dụng. Là ngƣời sáng lập đầu tiên công thức tính và đăng ký nhãn hiệu EVA, Công ty Stern Stewart đã tƣ vấn hơn 300 công ty trên khắp các châu lục thực hiện khuôn khổ EVA trong quản lý tài chính và xây dựng hệ thống khuyến khích bồi thƣờng. EVA lần lƣợt đã giúp cho các nhà quản lý các Công ty này tạo ra hàng trăm tỷ đô la cho sự giàu có cổ đông.
Một số công ty áp dụng EVA nhƣ: AT & T, Briggs & Stratton, Coca Cola, Duracell, Eli Lilly, Equifax, Georgia Pacific, Olin, Quaker Oats, Sprint, SPX, và Whirlpool (Al Ehrbar, 1998). EVA nhanh chóng đƣợc quảng bá rộng rãi và trở thành chỉ tiêu đánh giá thành quả hoạt động hoàn hảo tại rất nhiều công ty không những tại Hoa Kỳ mà còn lan sang các nƣớc Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ Latinh.Ví dụ, Công ty Coca-Cola từ lâu đã giữ đƣợc vị trí số 1 trong các công ty nƣớc ngọt nhƣng nó đã đƣa ra quyết định dứt khoát trong việc tạo giá trị trong các bộ phận vào năm 1983 khi Roberto Goizueta trở thành một trong những giám đốc điều hành đầu tiên thực hiện áp dụng EVA. Vào năm 1994 Coke đã trở thành ngƣời tạo ra sự giàu có số 1 trên thế giới, và đến cuối năm 1996 sản phẩm của nó đã làm giàu cho cổ đông 125. Ngoài ra, SPX, một công ty phụ tùng ôtô sút kém ở Muskegon, Michigan, thực hiện EVA trong năm 1996, và giá cổ phiếu của nó tăng vọt từ giữa thập niên 90 đến $69 một cổ phiếu, chỉ trong hai năm công ty đã tạo ra gần 350 triệu đôla sự giàu có cho cổ đông trong năm đầu tiên khi thực hiện EVA và thêm 400 triệu đôla cho năm thứ hai (Al Ehrbar, 1998).
Khái niệm Giá trị kinh tế tăng thêm (Economic Value Added - EVA) là chỉ tiêu phần thu nhập tăng thêm từ chênh lệch giữa lợi nhuận hoạt động sau thuế và chi phí sử dụng vốn (Ehrbar, 1998). Nói một cách đơn giản, EVA là lợi nhuận còn lại sau khi trừ chi phí sử dụng vốn đầu tƣ để tạo ra lợi nhuận. Nhƣ vậy, EVA là một ƣớc tính lợi nhuận kinh tế thực, hay là khoản thu nhập vƣợt hơn hay thấp hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi tối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thiểu mà các cổ đông hay chủ nợ có thể nhận đƣợc nếu đầu tƣ vào các chứng khoán khác có cùng mức độ rủi ro. EVA NOPAT- Lợi nhuận Chi phí sử hoạt động dụng vốn sau thuế (WACC x Vốn đầu tƣ) Hình 1.
Mô tả khái niệm giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) (Nguồn: http://www.com/?content=proprietary&p=eva ) Chi phí sử dụng vốn thƣờng đƣợc gọi là lợi tức cần thiết. Đó là tỷ lệ bù đắp cho rủi ro mà các nhà đầu tƣ phải gánh chịu (Joel Stern and John Shiely, 2001). Chi phí sử dụng vốn là cái giá mà doanh nghiệp phải trả cho việc sử dụng nguồn tài trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh, đó là nợ vay, cổ phần thƣờng, cổ phần ƣu đãi, thu nhập giữ lại. Chi phí sử dụng vốn đƣợc tính trên cơ sở lãi suất sử dụng vốn và số vốn sử dụng.
Lãi suất sử dụng vốn đƣợc hiểu là tỷ lệ hoàn vốn đầu tƣ tối thiểu mà doanh nghiệp cần đạt đƣợc để đảm bảo duy trì tỷ suất lợi nhuận trên vốn và tạo ra giá trị tăng thêm cho cổ đông. Do đó, lãi suất sử dụng vốn thƣờng đƣợc tính bằng lãi suất bình quân của tất cả các nguồn tài trợ (WACC). EVA, có thể xem nhƣ là lợi nhuận kinh tế, điều chỉnh những biến dạng do các phƣơng pháp kế toán và đề cập một cách chi tiết về chi phí sử dụng vốn cho cả nợ và vốn chủ sở hữu vì đây là yêu cầu chính đáng nhằm tính toán nhằm tính toán đƣợc khả năng sinh lãi tối thiểu có thể chấp nhận đƣợc. Công thức xác định EVA Công thức tính EVA đƣợc trình bày nhƣ sau: EVA = NOPATđiềuchỉnh – (WACC * TC điều chỉnh) (1.1) (Nguồn http://www.com) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Trong đó: NOPAT (Net Operating Profit after tax): Lợi nhuận hoạt động sau thuế WACC (Weighted Average Cost of Capital): Lãi suất sử dụng vốn bình quân (là chi phí trung bình của cả vốn chủ sở hữu và nợ có tính lãi) TC (Total capital): Vốn đầu tƣ Để tính toán EVA, ta dựa vào số liệu từ Báo cáo tài chính của doanh nghiệp (Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh).
EVA đại diện cho lợi nhuận công ty sau khi trừ tất cả các chi phí sử dụng vốn. Doanh thu - Chi phí hoạt động = Lợi nhuận hoạt động (EBIT, lợi nhuận trƣớc lãi và thuế) - Thuế = Lợi nhuận hoạt động sau thuế (NOPAT) - Chi phí sử dụng vốn (Vốn đầu tƣ * WACC) = EVA Về mặt toán học, có thể đề xuất các chiến lƣợc khác nhau để tăng EVA nhằm tối đa hóa giá trị cổ đông đƣợc tác giả Al Ehrbar (1998) đề xuất nhƣ sau: Cắt giảm chi phí hoạt động, giảm thuế và thúc đẩy NOPAT mà không cần tăng thêm vốn. Đó là, hoạt động hiệu quả hơn để kiếm lợi nhuận cao hơn vốn đã đầu tƣ vào hoạt động kinh doanh. Thực hiện tất cả các khoản đầu tƣ mà NOPAT tăng cao hơn so với sự gia tăng chi phí sử dụng vốn (tăng trƣởng lợi nhuận).
Hay là, đầu tƣ trong tăng trƣởng lợi nhuận bằng cách thực hiện các dự án có giá trị hiện tại ròng tích cực, hứa hẹn tạo ra lợi nhuận trên vốn vƣợt quá chi phí sử dụng vốn.