Chương 1: Cơ sở lý luận về Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC) Chương 2: Thực trạng về đánh giá thành quả hoạt động tại Học viện Ngân hàng – Phân viện Phú Yên Chương 3: Giải pháp vận dụng BSC để đánh giá thành quả hoạt động tại Học viện Ngân hàng – Phân viện Phú Yên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG (BALANCED SCORECARD – BSC) 1.1 Tổng quan về Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC) 1.1 Nguồn gốc và sự phát triển của Bảng điểm cân bằng Trước những năm 1900, các doanh nghiệp sử dụng thu nhập ròng để đo lường hiệu suất hoạt động, thu nhập được đo trong mối liên hệ tương đối với doanh thu bán hàng hoặc chi phí của các hoạt động mà không quan tâm đến tài sản sản xuất của tổ chức đã đầu tư. Điển hình vào thế kỷ 19, các chủ sở hữu, doanh nghiệp, dù là một nhà máy dệt, đường sắt, một công ty thép hoặc một tổ chức bán lẻ chỉ tập trung vào thực hiện hiệu quả hoạt động kinh tế một cách riêng lẻ. Trong ngắn hạn, chủ sở hữu chỉ cố gắng quản lý chi phí trong duy nhất một hoạt động. Họ đã không chọn các hoạt động thay thế để đầu tư.
Theo mục đích này, tỷ lệ của chi phí trên doanh thu, hoặc lợi nhuận trên doanh thu dường như cung cấp một hướng dẫn đầy đủ cho lợi nhuận đầu tư.[13, 500] Vào những năm đầu thập niên 90, môi trường của hoạt động kinh tế trên thế giới đang ở giai đoạn chuyển hóa mang tính cách mạng từ thời đại công nghiệp sang thời đại thông tin. Trong thời đại thông tin, các công ty không còn khai thác được những lợi thế cạnh tranh bền vững nếu chỉ dựa vào việc áp dụng công nghệ mới trên các tài sản hữu hình. Điều đó kéo theo sự thay đổi trong cách nhìn nhận của các nhà quản lý về vai trò của các tài sản hữu hình và vô hình. Việc khai thác và huy động các tài sản vô hình ngày càng trở thành yếu tố có tính quyết định hơn so với việc đầu tư và quản lý các tài sản hữu hình.
Do vậy, những thước đo truyền thống dựa trên các chỉ số tài chính không còn đủ mạnh và không phù hợp để kiểm soát, đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh của các công ty trong tình hình mới. Các công ty cần một công cụ mới, có thể đưa ra một cái nhìn cân đối về tất cả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 các nhân tố trong một doanh nghiệp và đưa ra công thức đánh giá hiệu quả hoạt động phù hợp hơn. Khái niệm Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC) lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1992 bởi Robert S.Kaplan – một giáo sư chuyên ngành kế toán thuộc đại học Harvard và David Norton – một chuyên gia tư vấn thuộc vùng Boston, với mục đích là thúc đẩy và đo lường hiệu quả hoạt động của các tổ chức. Bảng điểm cân bằng - BSC đánh giá hoạt động của một tổ chức, một bộ phận thông qua một hệ cân bằng 4 yếu tố: tài chính, khách hàng, qui trình hoạt động nội bộ, học hỏi và phát triển.
Những đánh giá này đã giúp cho các nhà quản lý có được bức tranh cân bằng về hiệu quả hoạt động hiện tại cũng như các nhân tố là động lực tăng trưởng cho tương lai. Ngay sau đó, BSC nhanh chóng được hàng ngàn các doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi lợi nhuận khắp nơi trên thế giới áp dụng, trong đó có Việt Nam. Gần 20 năm sau, trong kết quả khảo sát toàn cầu về các công cụ quản lý năm 2011 do hãng tư vấn Bain công bố, Bảng cân bằng điểm đã lọt vào tốp 10 công cụ quản lý được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới (vị trí thứ 6).2 Khái niệm Bảng điểm cân bằng Trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt và xu thế hội nhập hiện nay, các tổ chức phải đối mặt với rất nhiều rào cản trong việc phát triển các hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động. Điều mà doanh nghiệp cần hiện nay là một hệ thống mà có thể cân bằng tính chính xác của các chỉ số tài chính đã có trong quá khứ và định hướng về hiệu quả trong tương lai.
Đồng thời, hệ thống này cũng sẽ hỗ trợ tổ chức trong việc áp dụng các chiến lược khác nhau. Bảng điểm cân bằng (The Balanced Scorecard – BSC) là công cụ có thể giúp giải quyết cả hai vấn đề trên. Balanced Scorecard là một hệ thống nhằm chuyển tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu và thước đo cụ thể thông qua việc thiết lập một hệ thống để đo lường thành quả hoạt động trong một tổ chức trên bốn phương diện: tài chính, khách hàng, qui trình hoạt động nội bộ và học hỏi và phát triển. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 này cho thấy Balanced Scorecard đã đưa ra một mô hình để chuyển chiến lược thành những hành động cụ thể.
Balanced Scorecard: chuyển tầm nhìn và chiến lược thành hành động trên bốn phương diện [13, 369] 1.3 Sự cần thiết của phƣơng pháp Bảng điểm cân bằng trong việc đánh giá thành quả hoạt động Trở về trước thập kỷ 90, hệ thống quản trị của hầu hết các công ty chủ yếu dựa trên các chỉ số tài chính và ngân sách để đo lường mức độ thành công. Một hệ thống như vậy khiến các công ty có xu hướng tập trung vào ngắn hạn và các chỉ số tài chính chỉ là kết quả cuối cùng phản ánh sự đã rồi. Vì chỉ dựa vào các chỉ số tài chính nên các nhà quản trị gặp khó khăn trong việc kết nối mục tiêu của các bộ phận, cá nhân với mục tiêu công ty và chiến lược kinh doanh, khó cân bằng được ưu tiên ngắn hạn và dài hạn, xác định ưu tiên đầu tư nguồn lực cho các chức năng của công ty. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Từ một dự án nghiên cứu các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của rất nhiều công ty có tài sản vô hình đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo giá trị, Kaplan và Norton tin rằng nếu các công ty muốn cải thiện hiệu quả quản lý các tài sản vô hình (thương hiệu, nguồn nhân lực, sự trung thành của khách hàng, văn hóa, năng lực tổ chức), họ phải tích hợp việc đo lường các tài sản vô hình vào hệ thống quản trị của mình.1 Hạn chế của phƣơng pháp đánh giá thành quả bằng các thƣớc đo tài chính truyền thống Kaplan và Norton đã phát hiện một vấn đề khá nghiêm trọng là rất nhiều công ty có khuynh hướng quản lý doanh nghiệp chỉ dựa đơn thuần vào chỉ số tài chính.
Chỉ số tài chính là cần thiết, nhưng chỉ số này chỉ cho chúng ta biết kết quả hoạt động kinh doanh đã xảy ra trong quá khứ mà không cho chúng ta biết vấn đề gì sẽ xảy ra ở phía trước và trong tương lai hoạt động doanh nghiệp sẽ ra sao. Chính vì vậy, việc phụ thuộc gần như duy nhất vào những thước đo tài chính trong thời đại công nghiệp đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết không thể khắc phục được khi đánh giá thành quả hoạt động của các tổ chức trong thời đại thông tin bùng nổ như hiện nay. Thứ nhất, các thước đo tài chính truyền thống không cung cấp đầy đủ các thông tin để đánh giá thành quả hoạt động. Các báo cáo tài chính hiện nay vẫn cung cấp các thông tin tài chính mà không cung cấp đầy đủ thông tin phi tài chính như tài sản vô hình đặc biệt là các tài sản vô hình thuộc về trí tuệ của tổ chức và năng lực của tổ chức vì không đưa ra được giá trị đáng tin cậy.
Thêm nữa, các thước đo tài chính chỉ đưa ra các kết quả trong quá khứ mà thường thiếu đi sức mạnh dự báo và các thước đo tài chính thường được sử dụng để đánh giá thành quả của các nhà quản lý cấp cao, không thể sử dụng để đánh giá thành quả hoạt động của nhân viên cấp thấp hơn. Thứ hai, khi chỉ sử dụng thước đo tài chính để đánh giá thành quả hoạt động thì các nhà quản lý bộ phận có thể hy sinh lợi ích trong dài hạn để đạt được các mục tiêu ngắn hạn. Các hoạt động tạo ra giá trị dài hạn trong tổ chức có thể bị ảnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 hưởng bởi các mục tiêu tài chính ngắn hạn như tối thiểu hóa chi phí bằng cách cắt giảm lao động. Điều này sẽ dẫn đến một sự thu hẹp về qui mô.
Giáo sư Wayne Cascio (trường Đại học kinh doanh Colorado) đã chứng minh rằng thu hẹp qui mô không chỉ làm tổn thương nhân viên bằng việc sa thải họ mà còn phá hỏng giá trị của tổ chức trong dài hạn. Thứ ba, việc hạch toán kế toán có thể bị bóp méo để phục vụ những mục đích tài chính trong ngắn hạn. Nhiều tổ chức lợi dụng tài khoản chờ phân bổ chi phí để tăng lợi nhuận, khai khống doanh thu và gian lận trong các khoản phải thu để đạt mức tăng trưởng mong muốn trong báo cáo. Vì việc đánh giá thành quả hoạt động của tổ chức chỉ dựa vào các kết quả tài chính thể hiện trên các báo cáo tài chính nên tình trạng các chỉ số tài chính bị “chế biến” theo mục đích của người đứng đầu tổ chức thường xuyên xảy ra.
Thông tin cung cấp cho bên ngoài không còn trung thực và khách quan so với thông tin nội bộ của tổ chức. Để đáp ứng yêu cầu về hệ thống đánh giá thành quả hoạt động trong thời đại công nghệ thông tin và khắc phục những nhược điểm của hệ thống đo lường trong thời đại công nghiệp, công cụ đo lƣờng thành quả hoạt động của kế toán quản trị đó là BSC đã ra đời.1 Sự xuất hiện và xu hƣớng gia tăng của tài sản vô hình Cuộc cách mạng khoa học công nghệ trong những thập niên cuối của thế kỷ 20 đã đưa nhân loại tiến đến thời đại công nghệ thông tin với sự trợ giúp đắc lực của máy vi tính và mạng thông tin toàn cầu internet.