Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Cơ sở văn hóa xã hội và diễn biến của văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Chương 3. Nội dung văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và hiện đại hóa văn học Chương 4.
Nghệ thuật văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và hiện đại hóa văn học 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Văn du ký cả ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài có lịch sử khá lâu đời và trong bối cảnh văn hóa xã hội từ đầu thế kỷ XX phát triển rất mạnh, hiện vẫn đang được tiếp tục, thậm chí còn làm nên một mảng văn học hấp dẫn. Hiện tượng Huyền Chíp với Xách balô lên và đi gần đây [25] đã gây nên những phản ứng khác nhau của công chúng văn học cho thấy thế mạnh và những đặc điểm của thể loại này cần được chú ý hơn nữa. Phần tổng quan này được dành cho việc giới thuyết khái niệm văn du ký và các lý thuyết nghiên cứu văn du ký ở nước ngoài cũng như trong nước, trình bày khái quát lịch sử nghiên cứu với những gì giới nghiên cứu đã giải quyết và xác định nội dung cụ thể mà luận án cần giải quyết. Một số khái niệm cần xác định 1.
Khái niệm “du lịch” và du lịch hiện đại Du ký hay văn du ký do những người du lịch viết. Vì vậy chúng ta cần trước tiên bàn về các dạng du lịch khác nhau và những người đi du lịch. Theo Từ điển tiếng Việt, du lịch “đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở” [232, 272]. Từ định nghĩa này, cuốn từ điển xác định du ký là “thể ký ghi lại những điều người viết chứng kiến trong chuyến đi chơi xa” [232, 272].
Tất nhiên đây là định nghĩa chung nhất của một cuốn từ điển phổ thông chứ chưa phải là định nghĩa chuyên sâu của sách nghiên cứu về du lịch. Và vì thế mà khái niệm du ký cũng mới chỉ được đề cập sơ bộ, chưa toàn diện. Chẳng hạn, cùng với những điều chứng kiến, người đi xa còn ghi lại các suy nghĩ, cảm xúc của bản thân, nhìn lại bản thân mình, dân tộc mình và so sánh mình với người. Và nhiều chuyến đi không hề là “đi chơi” mà thực sự là các chuyến “công vụ” như chuyến đi sứ Trung Quốc của Lê Quí Đôn được ghi lại trong Bắc sứ thông lục, hay chuyến đi sứ sang Pháp của Phạm Phú Thứ ghi trong Tây hành nhật ký.
Từ điển Wikipedia (tiếng Anh) định nghĩa “du lịch” (tourism): “du lịch là cuộc đi nhằm mục đích giải trí, nghỉ ngơi, tôn giáo, gia đình hoặc kinh tế, thường 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com diễn ra trong một quãng thời gian nhất định”. Tài liệu của Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organisation) định nghĩa du lịch là “những hoạt động của con người di chuyển đến và ở lại những địa điểm nằm bên ngoài môi trường quen thuộc của họ trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm cho các mục đích giải trí, kinh doanh hay các mục đích khác” [282, 1]. Định nghĩa này chú ý đến mục đích đi và thời gian đi. Các mục đích khác đó rất rộng, có thể bao gồm kỳ nghỉ hè, dự lễ hội, kinh doanh, hành hương tôn giáo, truyền giáo, hội nghị khoa học, thăm viếng, đi nghiên cứu, ngoại giao, kể cả hoạt động công cán của sĩ quan của đội quân thực dân xâm lược, của người thám hiểm.
Cũng như các khái niệm khoa học xã hội khác, khái niệm du lịch khó có thể có được một định nghĩa bao quát hết được mọi phương diện, khía cạnh và bản thân khái niệm du lịch cũng không diễn tả hết được các kiểu đi, nội dung hoạt động và kể cả nội dung ghi chép, mục đích ghi chép. Thời gian đi du lịch bị khống chế trong phạm vi một năm cũng có thể gây phân vân. Các sứ thần Việt Nam xưa đi sứ Trung Quốc cả đi về mất gần 2 năm, các giáo sĩ Phương Tây đến Việt Nam truyền giáo có người ở lại hàng chục năm, Philiphê Bỉnh sống ở Bồ Đào Nha hàng chục năm có thể cho thấy việc hạn định thời gian du lịch một năm khó thuyết phục. Tuy vậy, một định nghĩa như vừa nêu trên có thể giúp ta hình dung đại thể du lịch như một hiện tượng văn hóa của nhân loại.
Trong các sách nghiên cứu về du lịch của nước ngoài, có phân biệt tourism (du lịch) với travel (du hành). Theo Bách khoa thư về du lịch (Encyclopedia of Tourism), travel chỉ sự di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác-một khía cạnh cơ bản, không thể thiếu của du lịch. Khái niệm du hành có gợi ý về hình thức, phương tiện đi lại: đi bộ, đi ngựa, đi tàu hỏa, đi máy bay, trượt tuyết, tự lái xe v.v…Từ khái niệm travel có từ traveller-người du hành, du lữ mà có thể không hẳn là nhà du lịch- tourist, ví dụ như người nhập cư, người di tản, sinh viên diện trao đổi văn hóa thì không thể gọi là khách du lịch. Lại có trường hợp mà người đi xa tìm thấy ở việc đi xa một phương cách thể hiện quan điểm sống của mình.
Nguyễn Tuân thậm chí có lúc cao hứng còn gọi mình là “đổi khách”: “Là một đổi khách chỉ muốn sống với cảnh đẹp luôn đổi thay, tôi chỉ muốn lòng tôi sớm chiều đều rung lên một điệu nhẹ nhõm, vui vẻ” [236, 284]. Thậm chí việc đi xa với ông không phải là để 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xem sự khác lạ so với nơi ở của mình mà chính là một cách để thay đổi cảm giác, thể hiện chủ nghĩa lãng mạn sâu đậm của mình. “Tôi chỉ là một du khách đi qua, thấy hay tôi ở lâu, thấy dở tôi lên đường đi ngay”. Phân biệt một cách tinh tế các trường hợp cụ thể, vốn rất đa dạng phong phú của những người di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác không phải là nhiệm vụ của luận án.
Chúng tôi quan tâm nghiên cứu tất cả các dạng văn bản do những người lữ hành, du lịch hay du lữ. Để hiểu được tầm quan trọng của văn du ký, chúng ta cần chú ý đến sự phát triển bùng nổ của du lịch hiện đại. Việc đi từ điểm này đến điểm khác đã diễn ra từ thời cổ đại nhưng hiện nay, việc đi tăng mạnh hơn bao giờ hết do những nhân tố khác nhau. Tổ chức du lịch thế giới ghi nhận sự tăng trưởng ngoạn mục của du lịch trên toàn cầu: từ năm 1950 mới có 25 triệu người đi du lịch đến năm có 277 triệu người, qua năm 1990, con số này đạt đến 438 triệu, năm 2000 lên tới 919 triệu [283, 2].
Khi du lịch đã thành một hiện tượng toàn cầu hóa thì văn du ký tất nhiên có vị trí, ý nghĩa to lớn hơn trước vì nó nằm trong tổng thể hoạt động của con người trên phạm vi toàn cầu, phục vụ cho nhu cầu tuyên truyền, quảng bá, giải trí của ngành du lịch. “Văn du ký” Thực tế, khái niệm “văn du ký” cũng đã được tòa soạn Phụ nữ tân văn dùng để giới thiệu du ký của Phạm Vân Anh (năm 1929), nhưng cho đến nay, chúng ta thường gặp khái niệm phổ biến “du ký” chứ ít khi thấy nói đến “văn du ký”. Chúng tôi lại chủ trương phải gọi là “văn du ký” vì lý do sau: Trước hết, trong lịch sử văn du ký ở nước ta, kể cả thời trung đại và hiện đại (chủ yếu là nửa đầu thế kỷ XX), có hiện tượng viết du ký bằng thơ. Đơn cử Nguyễn Tông Quai (1692-1767) có Sứ trình tân truyện -một tập thơ sứ trình dài 646 câu thơ Nôm theo thể song thất lục bát kể về chuyến Bắc sứ năm 1742 [234, 1196].
Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) viết Phụng sứ Yên Kinh tổng ca dài 472 câu thơ lục bát chữ Hán [234, 1150]. Trương Minh Ký (1855-1900), người có thể liệt vào loại tác giả văn học hiện đại, có Như Tây nhật trình (năm 1888) gồm 2000 câu thơ song thất lục bát, theo thể thức nhật ký, kể về từng ngày dẫn 10 du học sinh sang Trường trung 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học Angiê (Bắc Phi) và Chư quấc thoại hội (năm 1891) cũng bằng thơ. Do viết về hành trình bằng thơ nên các tác phẩm này có những điểm khác với văn xuôi du ký về thể loại. Hiển nhiên, thơ không có lợi thế ghi chép cụ thể, chi tiết các hiện tượng của cuộc sống như văn xuôi, tính tự sự mờ nhạt hơn.
Trong khi đó, một trong những nội dung quan trọng của luận án này là nghiên cứu nghệ thuật tả chân của nhiều tác phẩm du ký. Gọi là “văn du ký” để phân biệt với “thơ du ký”. Chúng ta cũng cần chú ý đến thuật ngữ quốc tế về văn du ký- travel literature-khái niệm cấu tạo từ travel có nghĩa là du lữ, và literature tức văn học. Nếu dịch nguyên văn thì sẽ là “văn học du lịch”, nếu Việt hóa sẽ có “văn du ký”.
Về tinh thần chung, khái niệm “văn du ký” của chúng tôi thống nhất với khái niệm “du ký” mà giới nghiên cứu hiện đang sử dụng, chỉ có điều cách gọi này có khả năng làm rõ hơn nội dung và đặc điểm của đối tượng. Nhân đây cũng cần lưu ý rằng trong lịch sử du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, có trường hợp tác giả đặt tên tác phẩm của mình dưới một tiêu mục là “lữ ký” mặc dù về hình thức và nội dung về cơ bản tương đồng với văn du ký. Đó là trường hợp Biệt Lam Trần Huy Bá trên tạp chí Tri tân với bài ký xuất bản năm 1942 Ban Mê Thuột [8] và bài ký xuất bản năm 1944 Hai tháng ở gò Óc eo hay là câu chuyện đi đào vàng [9]. Đây là áng văn du ký của một nhà khảo cổ học, không phải là một khách du lịch theo nghĩa người du lịch hiện đại.
Vì vậy, lại cần phải có phân biệt kiểu tác giả viết du ký và hình thức đi. Trần Huy Bá dùng khái niệm “lữ ký” theo chúng tôi là rất chính xác. Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, du là “đi chơi”, còn lữ là “đi ra xa nhà”. Cả hai hình thức đi đều là đi xa nhà, song một bên là đi chơi, chủ động, tự nguyện; còn một bên là xa nhà có thể bất đắc dĩ, do công việc đòi hỏi hay những lý do khác.
Sắc thái phân biệt rõ ràng là có. Có thể phải xét sự khác biệt giữa một bên là chủ động đi và một bên là bị động, đi ra khỏi nhà mà không phải đi chơi.