Luận án tiến sĩ văn du ký nửa đầu thế kỷ xx và tiến trình hiện đại hóa văn học luận án ts văn học 62 22 34 04

Luận án tiến sĩ văn học nghiên cứu văn du ký nửa đầu thế kỷ xx và tiến trình hiện đại hóa văn học luận án ts văn học 62 22 34 04, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết,

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ văn học

2015

178
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp mới của luận án

1.6. Cấu trúc của luận án

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Một số khái niệm cần xác định

2.1.1. Khái niệm “du lịch” và du lịch hiện đại

2.1.2. Khái niệm “văn du ký”

3. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ VĂN HÓA XÃ HỘI VÀ DIỄN BIẾN CỦA VĂN DU KÝ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

4. CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VĂN DU KÝ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC

5. CHƯƠNG 4: NGHỆ THUẬT VĂN DU KÝ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan về văn du ký nửa đầu thế kỷ XX và hiện đại hóa văn học

Trong nửa đầu thế kỷ XX, văn du ký trở thành một thể loại văn học quan trọng, góp phần vào quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. Đây là giai đoạn đánh dấu sự giao thoa văn hóa giữa Phương Đông và Phương Tây, tạo điều kiện cho sự phát triển của các thể loại văn học mới, trong đó có văn du ký. Văn du ký không chỉ ghi lại những trải nghiệm cá nhân của tác giả trong các chuyến đi xa mà còn phản ánh sự thay đổi trong nhận thức về bản thân và thế giới xung quanh, góp phần làm phong phú thêm nội dung và nghệ thuật của văn học nửa đầu thế kỷ XX. Nghiên cứu về văn du ký trong giai đoạn này giúp hiểu rõ hơn về vai trò của thể loại này trong tiến trình đổi mới và phát triển của văn học Việt Nam hiện đại.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của văn du ký trong văn học nửa đầu thế kỷ XX

Khái niệm này được củng cố qua các định nghĩa của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, nhấn mạnh vai trò của văn du ký trong việc ghi lại những điều mắt thấy tai nghe, đồng thời thể hiện sự tự khám phá và bộc lộ cái tôi của tác giả.

1.2. Vai trò của văn du ký trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam

Các nhà nghiên cứu như Vương Trí Nhàn, Đoàn Lê Giang đã chỉ ra rằng văn du ký là một trong những thể loại tiên phong trong quá trình hiện đại hóa văn học, góp phần làm mới hệ thống thể loại và nâng cao nhận thức về bản thân và thế giới.

II. Phân tích các vấn đề thách thức trong văn du ký nửa đầu thế kỷ XX và hiện đại hóa văn học

Mặc dù có nhiều đóng góp quan trọng, văn du ký nửa đầu thế kỷ XX cũng đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển và hiện đại hóa văn học. Các vấn đề như tính chân thực trong ghi chép, sự pha trộn giữa hư cấu và thực tế, cũng như sự thiếu đồng nhất trong định nghĩa và phân loại thể loại đã gây khó khăn cho việc nghiên cứu và đánh giá giá trị của văn du ký. Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng của văn hóa Phương Tây và các quan điểm thực dân cũng tạo ra những mâu thuẫn trong cách nhìn nhận về “người khác” và bản sắc dân tộc trong các tác phẩm văn du ký.

2.1. Vấn đề tính chân thực và hư cấu trong văn du ký nửa đầu thế kỷ XX

Vấn đề này cũng phản ánh sự chuyển đổi trong phong cách kể chuyện, từ ngôi thứ nhất chân thực sang ngôi thứ ba có yếu tố hư cấu, tạo nên sự đa dạng trong thể loại văn du ký.

2.2. Ảnh hưởng của văn hóa Phương Tây và thực dân đến quan điểm trong văn du ký

Nghiên cứu về ảnh hưởng này giúp hiểu rõ hơn về cách thức văn du ký phản ánh và góp phần hình thành ý thức dân tộc trong giai đoạn hiện đại hóa văn học.

2.3. Vấn đề giới tính và vai trò của phụ nữ trong văn du ký nửa đầu thế kỷ XX

Các tác giả như Phạm Vân Anh, Nguyễn Thị Kiêm đã góp phần làm phong phú thêm nội dung và góc nhìn của văn du ký, đồng thời thúc đẩy nhận thức về bình đẳng giới trong văn học.

III. Phương pháp và giải pháp nghiên cứu văn du ký nửa đầu thế kỷ XX trong hiện đại hóa văn học

Để nghiên cứu văn du ký nửa đầu thế kỷ XX và vai trò của nó trong tiến trình hiện đại hóa văn học, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu đa chiều, kết hợp giữa lịch sử, văn hóa học, thi pháp học và phân tích thể loại. Việc vận dụng các lý thuyết hậu thực dân, lý thuyết giới và các thành tựu nghiên cứu văn du ký quốc tế sẽ giúp làm sáng tỏ các đặc điểm nội dung và nghệ thuật của văn du ký Việt Nam. Đồng thời, việc khai thác các nguồn tư liệu báo chí, tạp chí và các tác phẩm tiêu biểu sẽ cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc cho nghiên cứu.

3.1. Phương pháp lịch sử và văn hóa học trong nghiên cứu văn du ký

Qua đó, có thể xác định được vai trò của văn du ký trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.

3.2. Thi pháp học và phân tích thể loại trong văn du ký nửa đầu thế kỷ XX

Những phân tích này giúp đánh giá đúng giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn học của văn du ký trong bối cảnh hiện đại hóa.

3.3. Vận dụng lý thuyết hậu thực dân và lý thuyết giới trong nghiên cứu văn du ký

Đây là giải pháp quan trọng để nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về văn du ký trong tiến trình hiện đại hóa văn học.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về văn du ký nửa đầu thế kỷ XX và hiện đại hóa văn học

Nghiên cứu văn du ký nửa đầu thế kỷ XX không chỉ có giá trị lý luận mà còn mang ý nghĩa thực tiễn trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn học và thúc đẩy sáng tác đương đại. Việc phân tích các tác phẩm tiêu biểu giúp làm rõ vai trò của văn du ký trong việc mở rộng tầm nhìn văn hóa, nâng cao nhận thức xã hội và phát triển phong cách văn học hiện đại. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần bổ sung vào kho tàng nghiên cứu văn học Việt Nam, đồng thời tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về văn học hiện đại và giao lưu văn hóa.

4.1. Đánh giá giá trị văn học và văn hóa của văn du ký nửa đầu thế kỷ XX

Việc đánh giá đúng giá trị này giúp nâng cao vị thế của văn du ký trong đời sống văn học và nghiên cứu học thuật.

4.2. Ảnh hưởng của văn du ký nửa đầu thế kỷ XX đến văn học hiện đại và đương đại

Nghiên cứu văn du ký giúp các nhà sáng tác và độc giả hiểu rõ hơn về truyền thống và xu hướng phát triển của văn học Việt Nam.

4.3. Ứng dụng nghiên cứu văn du ký trong giáo dục và phát triển văn hóa đọc

Ứng dụng này góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển toàn diện của văn hóa và giáo dục Việt Nam.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của văn du ký trong hiện đại hóa văn học Việt Nam

Văn du ký nửa đầu thế kỷ XX là một thể loại văn học có vai trò quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. Qua nghiên cứu, có thể khẳng định văn du ký không chỉ là thể loại ghi chép hành trình mà còn là phương tiện thể hiện cái tôi cá nhân, phản ánh sự giao lưu văn hóa và những biến đổi xã hội sâu sắc. Trong tương lai, văn du ký tiếp tục có tiềm năng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển của công nghệ thông tin, tạo điều kiện cho sự đa dạng hóa hình thức và nội dung. Việc tiếp tục nghiên cứu và phát huy giá trị văn du ký sẽ góp phần làm giàu thêm đời sống văn học và văn hóa Việt Nam hiện đại.

5.1. Tầm quan trọng của văn du ký trong việc duy trì và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc

Đây là cơ sở để văn du ký tiếp tục đóng vai trò cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa dân tộc và thế giới.

5.2. Triển vọng phát triển của văn du ký trong kỷ nguyên số và toàn cầu hóa

Triển vọng này mở ra hướng đi mới cho các nhà nghiên cứu và sáng tác văn du ký trong tương lai.

5.3. Đề xuất hướng nghiên cứu và phát triển văn du ký trong tương lai

Đây là những bước đi cần thiết để văn du ký tiếp tục phát huy vai trò trong hiện đại hóa văn học Việt Nam.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Cơ sở văn hóa xã hội và diễn biến của văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Chương 3. Nội dung văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và hiện đại hóa văn học Chương 4.

Nghệ thuật văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và hiện đại hóa văn học 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Văn du ký cả ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài có lịch sử khá lâu đời và trong bối cảnh văn hóa xã hội từ đầu thế kỷ XX phát triển rất mạnh, hiện vẫn đang được tiếp tục, thậm chí còn làm nên một mảng văn học hấp dẫn. Hiện tượng Huyền Chíp với Xách balô lên và đi gần đây [25] đã gây nên những phản ứng khác nhau của công chúng văn học cho thấy thế mạnh và những đặc điểm của thể loại này cần được chú ý hơn nữa. Phần tổng quan này được dành cho việc giới thuyết khái niệm văn du ký và các lý thuyết nghiên cứu văn du ký ở nước ngoài cũng như trong nước, trình bày khái quát lịch sử nghiên cứu với những gì giới nghiên cứu đã giải quyết và xác định nội dung cụ thể mà luận án cần giải quyết. Một số khái niệm cần xác định 1.

Khái niệm “du lịch” và du lịch hiện đại Du ký hay văn du ký do những người du lịch viết. Vì vậy chúng ta cần trước tiên bàn về các dạng du lịch khác nhau và những người đi du lịch. Theo Từ điển tiếng Việt, du lịch “đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở” [232, 272]. Từ định nghĩa này, cuốn từ điển xác định du ký là “thể ký ghi lại những điều người viết chứng kiến trong chuyến đi chơi xa” [232, 272].

Tất nhiên đây là định nghĩa chung nhất của một cuốn từ điển phổ thông chứ chưa phải là định nghĩa chuyên sâu của sách nghiên cứu về du lịch. Và vì thế mà khái niệm du ký cũng mới chỉ được đề cập sơ bộ, chưa toàn diện. Chẳng hạn, cùng với những điều chứng kiến, người đi xa còn ghi lại các suy nghĩ, cảm xúc của bản thân, nhìn lại bản thân mình, dân tộc mình và so sánh mình với người. Và nhiều chuyến đi không hề là “đi chơi” mà thực sự là các chuyến “công vụ” như chuyến đi sứ Trung Quốc của Lê Quí Đôn được ghi lại trong Bắc sứ thông lục, hay chuyến đi sứ sang Pháp của Phạm Phú Thứ ghi trong Tây hành nhật ký.

Từ điển Wikipedia (tiếng Anh) định nghĩa “du lịch” (tourism): “du lịch là cuộc đi nhằm mục đích giải trí, nghỉ ngơi, tôn giáo, gia đình hoặc kinh tế, thường 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com diễn ra trong một quãng thời gian nhất định”. Tài liệu của Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organisation) định nghĩa du lịch là “những hoạt động của con người di chuyển đến và ở lại những địa điểm nằm bên ngoài môi trường quen thuộc của họ trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm cho các mục đích giải trí, kinh doanh hay các mục đích khác” [282, 1]. Định nghĩa này chú ý đến mục đích đi và thời gian đi. Các mục đích khác đó rất rộng, có thể bao gồm kỳ nghỉ hè, dự lễ hội, kinh doanh, hành hương tôn giáo, truyền giáo, hội nghị khoa học, thăm viếng, đi nghiên cứu, ngoại giao, kể cả hoạt động công cán của sĩ quan của đội quân thực dân xâm lược, của người thám hiểm.

Cũng như các khái niệm khoa học xã hội khác, khái niệm du lịch khó có thể có được một định nghĩa bao quát hết được mọi phương diện, khía cạnh và bản thân khái niệm du lịch cũng không diễn tả hết được các kiểu đi, nội dung hoạt động và kể cả nội dung ghi chép, mục đích ghi chép. Thời gian đi du lịch bị khống chế trong phạm vi một năm cũng có thể gây phân vân. Các sứ thần Việt Nam xưa đi sứ Trung Quốc cả đi về mất gần 2 năm, các giáo sĩ Phương Tây đến Việt Nam truyền giáo có người ở lại hàng chục năm, Philiphê Bỉnh sống ở Bồ Đào Nha hàng chục năm có thể cho thấy việc hạn định thời gian du lịch một năm khó thuyết phục. Tuy vậy, một định nghĩa như vừa nêu trên có thể giúp ta hình dung đại thể du lịch như một hiện tượng văn hóa của nhân loại.

Trong các sách nghiên cứu về du lịch của nước ngoài, có phân biệt tourism (du lịch) với travel (du hành). Theo Bách khoa thư về du lịch (Encyclopedia of Tourism), travel chỉ sự di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác-một khía cạnh cơ bản, không thể thiếu của du lịch. Khái niệm du hành có gợi ý về hình thức, phương tiện đi lại: đi bộ, đi ngựa, đi tàu hỏa, đi máy bay, trượt tuyết, tự lái xe v.v…Từ khái niệm travel có từ traveller-người du hành, du lữ mà có thể không hẳn là nhà du lịch- tourist, ví dụ như người nhập cư, người di tản, sinh viên diện trao đổi văn hóa thì không thể gọi là khách du lịch. Lại có trường hợp mà người đi xa tìm thấy ở việc đi xa một phương cách thể hiện quan điểm sống của mình.

Nguyễn Tuân thậm chí có lúc cao hứng còn gọi mình là “đổi khách”: “Là một đổi khách chỉ muốn sống với cảnh đẹp luôn đổi thay, tôi chỉ muốn lòng tôi sớm chiều đều rung lên một điệu nhẹ nhõm, vui vẻ” [236, 284]. Thậm chí việc đi xa với ông không phải là để 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xem sự khác lạ so với nơi ở của mình mà chính là một cách để thay đổi cảm giác, thể hiện chủ nghĩa lãng mạn sâu đậm của mình. “Tôi chỉ là một du khách đi qua, thấy hay tôi ở lâu, thấy dở tôi lên đường đi ngay”. Phân biệt một cách tinh tế các trường hợp cụ thể, vốn rất đa dạng phong phú của những người di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác không phải là nhiệm vụ của luận án.

Chúng tôi quan tâm nghiên cứu tất cả các dạng văn bản do những người lữ hành, du lịch hay du lữ. Để hiểu được tầm quan trọng của văn du ký, chúng ta cần chú ý đến sự phát triển bùng nổ của du lịch hiện đại. Việc đi từ điểm này đến điểm khác đã diễn ra từ thời cổ đại nhưng hiện nay, việc đi tăng mạnh hơn bao giờ hết do những nhân tố khác nhau. Tổ chức du lịch thế giới ghi nhận sự tăng trưởng ngoạn mục của du lịch trên toàn cầu: từ năm 1950 mới có 25 triệu người đi du lịch đến năm có 277 triệu người, qua năm 1990, con số này đạt đến 438 triệu, năm 2000 lên tới 919 triệu [283, 2].

Khi du lịch đã thành một hiện tượng toàn cầu hóa thì văn du ký tất nhiên có vị trí, ý nghĩa to lớn hơn trước vì nó nằm trong tổng thể hoạt động của con người trên phạm vi toàn cầu, phục vụ cho nhu cầu tuyên truyền, quảng bá, giải trí của ngành du lịch. “Văn du ký” Thực tế, khái niệm “văn du ký” cũng đã được tòa soạn Phụ nữ tân văn dùng để giới thiệu du ký của Phạm Vân Anh (năm 1929), nhưng cho đến nay, chúng ta thường gặp khái niệm phổ biến “du ký” chứ ít khi thấy nói đến “văn du ký”. Chúng tôi lại chủ trương phải gọi là “văn du ký” vì lý do sau: Trước hết, trong lịch sử văn du ký ở nước ta, kể cả thời trung đại và hiện đại (chủ yếu là nửa đầu thế kỷ XX), có hiện tượng viết du ký bằng thơ. Đơn cử Nguyễn Tông Quai (1692-1767) có Sứ trình tân truyện -một tập thơ sứ trình dài 646 câu thơ Nôm theo thể song thất lục bát kể về chuyến Bắc sứ năm 1742 [234, 1196].

Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) viết Phụng sứ Yên Kinh tổng ca dài 472 câu thơ lục bát chữ Hán [234, 1150]. Trương Minh Ký (1855-1900), người có thể liệt vào loại tác giả văn học hiện đại, có Như Tây nhật trình (năm 1888) gồm 2000 câu thơ song thất lục bát, theo thể thức nhật ký, kể về từng ngày dẫn 10 du học sinh sang Trường trung 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học Angiê (Bắc Phi) và Chư quấc thoại hội (năm 1891) cũng bằng thơ. Do viết về hành trình bằng thơ nên các tác phẩm này có những điểm khác với văn xuôi du ký về thể loại. Hiển nhiên, thơ không có lợi thế ghi chép cụ thể, chi tiết các hiện tượng của cuộc sống như văn xuôi, tính tự sự mờ nhạt hơn.

Trong khi đó, một trong những nội dung quan trọng của luận án này là nghiên cứu nghệ thuật tả chân của nhiều tác phẩm du ký. Gọi là “văn du ký” để phân biệt với “thơ du ký”. Chúng ta cũng cần chú ý đến thuật ngữ quốc tế về văn du ký- travel literature-khái niệm cấu tạo từ travel có nghĩa là du lữ, và literature tức văn học. Nếu dịch nguyên văn thì sẽ là “văn học du lịch”, nếu Việt hóa sẽ có “văn du ký”.

Về tinh thần chung, khái niệm “văn du ký” của chúng tôi thống nhất với khái niệm “du ký” mà giới nghiên cứu hiện đang sử dụng, chỉ có điều cách gọi này có khả năng làm rõ hơn nội dung và đặc điểm của đối tượng. Nhân đây cũng cần lưu ý rằng trong lịch sử du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, có trường hợp tác giả đặt tên tác phẩm của mình dưới một tiêu mục là “lữ ký” mặc dù về hình thức và nội dung về cơ bản tương đồng với văn du ký. Đó là trường hợp Biệt Lam Trần Huy Bá trên tạp chí Tri tân với bài ký xuất bản năm 1942 Ban Mê Thuột [8] và bài ký xuất bản năm 1944 Hai tháng ở gò Óc eo hay là câu chuyện đi đào vàng [9]. Đây là áng văn du ký của một nhà khảo cổ học, không phải là một khách du lịch theo nghĩa người du lịch hiện đại.

Vì vậy, lại cần phải có phân biệt kiểu tác giả viết du ký và hình thức đi. Trần Huy Bá dùng khái niệm “lữ ký” theo chúng tôi là rất chính xác. Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, du là “đi chơi”, còn lữ là “đi ra xa nhà”. Cả hai hình thức đi đều là đi xa nhà, song một bên là đi chơi, chủ động, tự nguyện; còn một bên là xa nhà có thể bất đắc dĩ, do công việc đòi hỏi hay những lý do khác.

Sắc thái phân biệt rõ ràng là có. Có thể phải xét sự khác biệt giữa một bên là chủ động đi và một bên là bị động, đi ra khỏi nhà mà không phải đi chơi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ