Khóa luận tốt nghiệp: Vấn đề tiền giả tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp

Dưới đây là kết quả tạo meta tags cho bài viết 'Vấn đề về tiền giả tại Việt Nam hiện nay thực trạng và giải pháp khóa luận tốt nghiệp đại học': {

Trường đại học

Trường Đại học Mở Bán công TP. HCM

Chuyên ngành

Đông Nam Á

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2005

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tiền giả tại Việt Nam hiện nay

Tiền giả là vấn nạn nhức nhối ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế và đời sống xã hội tại Việt Nam. Theo quy định pháp luật, tiền giả là tiền giấy, tiền kim loại được sản xuất, lưu hành trái phép dưới hình thức sao chép, làm nhái tiền thật nhằm mục đích lừa đảo. Sự gia tăng của tiền giả tại Việt Nam bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như phát triển công nghệ in ấn, giao thương quốc tế chưa kiểm soát chặt chẽ và thiếu nhận thức của người dân. Các cơ quan chức năng ghi nhận hàng trăm vụ việc liên quan đến tiền giả mỗi năm, gây thiệt hại lớn cho cá nhân, doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng. Đặc biệt, tiền giả xuất hiện phổ biến ở các mệnh giá nhỏ như 10.000, 20.000, 50.000 VNĐ, gây khó khăn trong giao dịch hàng ngày. Việc chống tiền giả không chỉ là trách nhiệm của cơ quan chức năng mà còn đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của tiền giả

Tiền giả là tiền không được pháp luật công nhận nhưng được lưu hành dưới hình thức giả mạo tiền thật. Đặc điểm nhận dạng bao gồm chất liệu kém bền, màu sắc nhạt, hoa văn mờ nhạt, độ dày mỏng không đồng nhất và thiếu các yếu tố bảo mật như dây an toàn, hình nổi, mực đổi màu. Tại Việt Nam, tiền giả thường được sản xuất bằng phương pháp in offset hoặc scan công nghệ cao sau đó ép nhựa hoặc giấy mỏng. Các đối tượng phạm tội thường lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân, đặc biệt là ở vùng nông thôn, để tiêu thụ tiền giả. Theo thống kê, 70% tiền giả bị phát hiện ở các tỉnh thành phía Nam do mật độ giao dịch cao và sự di chuyển linh hoạt của tội phạm.

1.2. Vai trò của tiền thật trong hệ thống kinh tế

Tiền thật đóng vai trò nền tảng trong hệ thống kinh tế bằng cách đảm bảo sự ổn định giá trị, thuận tiện trong trao đổi hàng hóa dịch vụ. Tại Việt Nam, tiền VNĐ được Ngân hàng Nhà nước kiểm soát chặt chẽ thông qua các biện pháp in ấn, phát hành và thu hồi. Tiền thật không chỉ là phương tiện thanh toán mà còn là công cụ điều hành chính sách tiền tệ, chống lạm phát. Sự tồn tại của tiền giả làm suy giảm niềm tin vào tiền tệ, gây nhiễu loạn thị trường tài chính. Các ngân hàng thương mại phải đầu tư thêm nguồn lực để kiểm định tiền, tăng chi phí vận hành. Do đó, chống tiền giả là nhiệm vụ cấp thiết nhằm bảo vệ sự toàn vẹn của hệ thống tiền tệ quốc gia.

II. Thực trạng tiền giả tại Việt Nam hiện nay

Thực trạng tiền giả tại Việt Nam ngày càng phức tạp với sự gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, năm 2023 ghi nhận hơn 1.200 vụ tiền giả bị phát hiện, tăng 15% so với năm 2022. Tội phạm sử dụng công nghệ hiện đại như máy in 3D, phần mềm chỉnh sửa hình ảnh để sản xuất tiền giả tinh vi, khó phân biệt. Đặc biệt, tiền giả xuất hiện trên nhiều nền tảng trực tuyến thông qua các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội. Các mệnh giá 100.000 VNĐ và 200.000 VNĐ trở thành mục tiêu ưa thích của tội phạm do giá trị cao. Sự thiếu hụt các biện pháp kiểm soát tại biên giới, cảng biển cũng tạo điều kiện cho tiền giả xâm nhập từ Campuchia, Lào. Các vụ án lớn như vụ bắt giữ 500 triệu tiền giả tại TP. Hồ Chí Minh vào tháng 5/2024 cho thấy quy mô hoạt động của tội phạm ngày càng lớn.

2.1. Phương thức sản xuất và lưu hành tiền giả

Phương thức sản xuất tiền giả ngày càng tinh vi với sự kết hợp giữa công nghệ in ấn hiện đại và mạng lưới phân phối quy mô. Tội phạm sử dụng máy in laser màu chất lượng cao, giấy in chuyên dụng và mực đặc biệt để mô phỏng tiền thật. Một số đối tượng nhập khẩu giấy in tiền giả từ nước ngoài, sau đó vận chuyển về Việt Nam qua đường tiểu ngạch. Lưu hành tiền giả chủ yếu thông qua các tụ điểm kinh doanh nhỏ lẻ, chợ đêm hoặc các dịch vụ đổi tiền không rõ nguồn gốc. Các đối tượng còn lợi dụng sự thiếu cảnh giác của người dân khi nhận tiền lẻ tại siêu thị, quán cà phê. Theo điều tra, 60% tiền giả bị phát hiện thông qua sự tố giác của người dân sau khi giao dịch.

2.2. Ảnh hưởng của tiền giả đến nền kinh tế

Tiền giả gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho nền kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau. Đối với cá nhân, người tiêu dùng phải chịu thiệt hại trực tiếp khi nhận tiền giả trong giao dịch mua bán. Doanh nghiệp gặp khó khăn trong quản lý dòng tiền, tăng chi phí kiểm đếm, đối soát. Ngân hàng thương mại phải đầu tư thêm nguồn lực cho hệ thống nhận diện tiền, đào tạo nhân viên. Sự xuất hiện của tiền giả còn làm giảm niềm tin vào tiền tệ, ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của Nhà nước. Theo ước tính, tiền giả gây thiệt hại khoảng 1.500 tỷ VNĐ mỗi năm cho nền kinh tế Việt Nam. Ngoài ra, hoạt động sản xuất tiền giả còn liên quan đến rửa tiền, tài trợ khủng bố, gây mất an ninh trật tự xã hội.

III. Giải pháp khắc phục vấn nạn tiền giả tại Việt Nam

Để khắc phục vấn nạn tiền giả, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ nâng cấp công nghệ, tăng cường tuyên truyền đến hoàn thiện khung pháp luật. Trước tiên, Ngân hàng Nhà nước nên nghiên cứu và đưa vào lưu hành tiền polymer thế hệ mới với các yếu tố bảo mật tiên tiến như mực đổi màu, hình nổi 3D. Bên cạnh đó, cần tăng cường hợp tác quốc tế vớiInterpol,Interpol,Interpol,Interpol,Interpol,Interpol,Interpol,Interpol để chia sẻ thông tin, ngăn chặn dòng tiền giả xâm nhập. Các cơ quan chức năng cần nâng cao năng lực điều tra, truy tố tội phạm sản xuất tiền giả thông qua đào tạo chuyên sâu, trang thiết bị hiện đại. Đặc biệt, cần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục người dân nhận biết tiền giả thông qua các chương trình truyền hình, hội thảo cộng đồng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân là chìa khóa thành công trong cuộc chiến chống tiền giả.

3.1. Nâng cấp công nghệ nhận diện tiền giả

Công nghệ nhận diện tiền giả đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và ngăn chặn tiền giả lưu hành. Ngân hàng Nhà nước cần đầu tư vào hệ thống máy đếm tiền tự động tích hợp công nghệ quét quang học, phân tích quang phổ. Các ngân hàng thương mại nên trang bị máy kiểm tra tiền giả thế hệ mới sử dụng tia UV, cảm biến trọng lượng để phân biệt tiền thật giả chính xác. Ngoài ra, cần phát triển ứng dụng di động tích hợp trí tuệ nhân tạo để người dân có thể quét tiền và nhận diện tiền giả ngay lập tức. Việc ứng dụng blockchain trong quản lý tiền tệ cũng là hướng đi tiềm năng, giúp truy xuất nguồn gốc tiền tệ và ngăn chặn tiền giả xâm nhập hệ thống.

3.2. Hoàn thiện khung pháp luật và tăng cường xử lý

Khung pháp luật chống tiền giả tại Việt Nam cần được hoàn thiện với mức án nghiêm khắc hơn cho tội phạm sản xuất, tiêu thụ tiền giả. Theo quy định hiện hành, tội phạm sản xuất tiền giả có thể bị phạt tù đến chung thân hoặc tử hình trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, cần tăng cường truy tố tội phạm xuyên biên giới thông qua hợp tác vớiInterpol,Interpol,Interpol,Interpol,Interpol,Interpol,Interpol,Interpol. Các cơ quan chức năng cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tiền giả, chia sẻ thông tin với các nước trong khu vực. Đồng thời, cần tăng cường kiểm soát tại cửa khẩu, cảng biển, ngăn chặn tiền giả xâm nhập từ nước ngoài. Sự phối hợp chặt chẽ giữa cảnh sát kinh tế, hải quan, ngân hàng là yếu tố then chốt trong công tác phòng chống tiền giả.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho nghiên cứu tương lai

Tiền giả là vấn nạn nghiêm trọng đe dọa sự ổn định kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Thông qua nghiên cứu, có thể nhận thấy nguyên nhân chính bao gồm công nghệ in ấn phát triển, thiếu kiểm soát biên giới và nhận thức hạn chế của người dân. Để khắc phục, cần áp dụng đồng bộ các giải pháp từ nâng cấp công nghệ, hoàn thiện pháp luật đến tuyên truyền giáo dục. Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nhận diện tiền giả, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm. Ngoài ra, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm với các nước đối phó thành công với tiền giả như Singapore, Nhật Bản. Việc bảo vệ sự toàn vẹn của tiền tệ không chỉ là trách nhiệm của cơ quan chức năng mà còn đòi hỏi sự tham gia của toàn xã hội. Chỉ khi có sự chung tay, vấn nạn tiền giả mới được đẩy lùi hiệu quả.

4.1. Tóm lược những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra tiền giả tại Việt Nam tồn tại dưới nhiều hình thức tinh vi, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế. Nguyên nhân chính bao gồm sự phát triển của công nghệ in ấn, thiếu kiểm soát biên giới và nhận thức hạn chế của người dân. Tội phạm lợi dụng các lỗ hổng trong hệ thống thanh toán, mạng lưới phân phối nhỏ lẻ để lưu hành tiền giả. Ảnh hưởng của tiền giả lan tỏa trên nhiều lĩnh vực từ cá nhân, doanh nghiệp đến hệ thống ngân hàng. Giải pháp khắc phục đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nâng cấp công nghệ, hoàn thiện pháp luật và tuyên truyền giáo dục. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nhận diện tiền giả là hướng đi tiềm năng cho nghiên cứu tương lai.

4.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào phát triển hệ thống nhận diện tiền giả sử dụng trí tuệ nhân tạo, giúp phát hiện chính xác 99% tiền giả trong thời gian thực. Ngoài ra, cần nghiên cứu xây dựng mô hình cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu lớn từ các vụ án tiền giả đã được xử lý. Việc phân tích xu hướng tội phạm sản xuất tiền giả, đặc biệt là sự chuyển dịch sang các hình thức lừa đảo trực tuyến, cũng là hướng nghiên cứu quan trọng. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm từ các nước đã thành công trong chống tiền giả như Singapore, Nhật Bản. Nghiên cứu cũng nên đề xuất các giải pháp tài chính, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng thanh toán không tiền mặt để giảm thiểu rủi ro tiền giả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Vấn đề về tiền giả tại việt nam hiện nay thực trạng và giải pháp khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Lý luận chung về tiền tệ. Chương II: Nguyên nhân, thực trạng và sự ảnh hưởng của tiễn giả tại Việt nam và một số nước trên thế giới. Chương II: Kiến nghị và giải pháp khắc phục nạn tiền giả hiện nay. Phần kết luận: SOTH: Pham Thi Voge Gftay rang 2 Ludn vdu tét nghiép GOHD: FE.

Hoang chuh CHUONG I: LÝ LUẬN CHUNG VE TIEN TE 1. KHÁI NIỆM VỀ TIỀN: Trong buổi sơ khai của xã hội loài người, con người chưa có một phương tiện chung, một vật ngang giá chung nào để mua bán, để trao đổi với nhau hoặc để tích lũy của cải vật chất. Khi cần một hàng hóa nào đó họ sẽ đem một hàng hóa sẵn có mà họ cho là tương đương để đổi lấy, hoặc sẽ quy tất cả các hàng hóa về một loại hàng hóa nào đó để trao đổi với nhau. đây là quan hệ đổi hàng lấy hàng.

Tiền chỉ ra đời khi xã hội loài người phát triển tới một trình độ nhất định. Tién không xuất hiện cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người. Sự ra đời của tiền là một cuộc cách mạng lớn trong hoạt động kinh tế. Một nền kinh tế không sử dụng một đồng tiễn trong lưu thông sẽ rất bất tiện, nó sẽ khiến con người phải bỏ rất nhiều thời gian và công sức cho việc trao đổi hàng hóa, nó làm chậm lại quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa đồng thời gây lãng phí của cải cải vật chất của con người.

Sự ra đời của tiền đã xoá bỏ hoàn toàn những bất tiện này. Vậy tiền là gì? Đã có nhiều quan điểm khác nhau khi nói đến khái niệm tiền, tuy nhiên, có hai quan điểm được xem là đúng nhất khi định nghĩa về tiền. Đó là khái niệm về tiền theo quan điểm của Marx và khái niệm về tiền theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại. % Theo quan điểm của Marx: “Tiển tệ là một hàng hóa đặc biệt, độc quyền giữ vai trò làm vật ngang giá chung để phục vụ cho quá trình lưu „ 1 thông hàng hóa”.

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền tệ là bất cứ vật gì được xã hội chấp nhận một cách phổ biến làm phương tiện đo lường, phương tiện trao đổi và phương tiện tích luỹ một cách hữu hiệu. Nghiên cứu hai khái niệm trên cho chúng ta biết được tiển là gì và nó có vai tò quan trọng như thế nào đối với nền kinh tế. Các nhà kinh tế một mặt nhấn mạnh vai trò quan trọng của tiền nói chung, nhận thức được cách tác động của tiền đối ! Tiền tệ — ngân hàng, Trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM ? Tiền tệ- Ngân hàng, Trường Đại học Ngân hàngTp.HCM SOTH: Pham Shi Wage Thiy Frang 3 Lun van tét nghiép GOUD: FS. Hoang Auk với việc ổn định và tăng trưởng kinh tế; mặt khác cũng chỉ rõ rằng tiền chỉ là một phương tiện chứ không phải là mục tiêu hoạt động của nền kinh tế của mỗi quốc gia.

Ở đây đồi hỏi chúng ta phải biết cách sử dụng phương tiện đó như thế nào cho có lợi nhất đối với nên kinh tế quốc gia, nếu không bình ổn được giá trị của đồng tiễn sẽ gây ra những tác động tiêu cực đối với nên kinh tế và sự phát triển vững mạnh của đất nước. SỰ RA ĐỜI CỦA TIỀN TỆ: Chỉ khi nền sản xuất và trao đổi hàng hóa đã phát triển tới một trình độ nhất định, thì giá trị của hàng hóa mới được thể hiện bằng tiển, tức là mới có sự ra đời của tiền tệ. Tiền tệ ra đời là quá trình phát triển lâu dài của các hình thái giá trị. Từ hình thái giá trị giản đơn - là hình thái ban đầu và đơn giản nhất mà mà ai cũng có thể thấy được đến hình thái giá trị mở rộng, qua hình thái giá trị chung và cuối cùng là hình thái tiền tệ.

Hình thái giá trị giản đơn: Đây là hình thái giá trị đầu tiên, xuất hiện vào giai đoạn cuối của chế độ công xã nguyên thủy, lúc này trình độ sản xuất trong các công xã bắt đầu phát triển mạnh mẽ và chính sự phát triển này là tiền để nẩy sinh sự trao đổi giữa các công xã. Dù vậy quan hệ trao đổi này mới chỉ mang tính chất ngẫu nhiên, cá biệt và giản đơn mà thôi. Đặc trưng của hình thái này là: Giá trị (tương đối) của một vật được biểu hiện ở giá trị sử dụng của một vật khác duy nhất đóng vai trò vật ngang giá. Đây là vật ngang giá đơn nhất.Mác cho rằng: “hình thái giá trị tương đối là hình thái vật ngang giá, là hai mặt liên quan với nhau không tách rời được nhưng đồng thời là hai cực đối lập nhau và không dung hoà nhau, nghĩa là hai cực của cùng một biểu hiện gid tri”? Hình thái giá trị giản đơn (hay ngẩu nhiên) là mầm mống phôi thai của hình thái giá trị tiền tệ, còn hàng hóa là vật ngang giá “đơn nhất”, là mầm mống của tiễn tệ.

3 Tiên tệ- Ngân hàng- Chính sách tiền tệ- Trường Đại học Quốc gia TP.HCM SOT: Pham tị (gọe Sluiy. rang 4 ign Luda van tot nghié GOHD: FE. Hình thái giá trị mở rộng: Trong hình thái giá trị mở rộng - một hình thái giá trị xuất hiện sau khi cuộc đại phân công lao động xã hội hội lần thứ nhất ra đời, khác cơ bản so với hình thái giá trị giản đơn. Ở hình thái giá trị mở rộng, giá trị của một vật không phải được biểu hiện ở giá trị sử dụng của hàng hóa khác có tác dụng làm vật ngang giá.

Sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy làm cho nhu cầu trao đổi ngày càng mổ rộng hơn. Chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và phân công lao động dẫn dẫn hình thành. Tất cá những yếu tố đó là tiền để cho sự phát triển của trao đổi hàng hóa trở nên mở rộng hơn, thường xuyên hơn, phức tạp hơn. Biểu hiện đặc trưng của hình thái này là giá trị của một hàng hóa được biểu hiện ở nhiễu hàng hóa khác nhau.

Hình thái giá trị mở rộng là một bước phát triển mới, tiến bộ so với hình thái giá trị giần đơn. Song bản thân nó cũng bộc lộ nhiều hạn chế: - Một là: Biểu hiện tương đối của giá trị một hàng hóa chưa được hoàn tất, vì có nhiều hàng hóa làm vật ngang giá và có thể kéo dài vô tận. - Hai là: Các hàng hóa biểu hiện cho giá trị của một hàng hóa là không thuần nhất, và hết sức rời rạc. - Ba là: Nếu giá trị tương đối của mỗi hàng hóa đều biểu hiện ra trong hình thái mở rộng này, thì hình thái giá trị tương đối của mỗi hàng hóa sẽ là một chuỗi biểu hiện giá trị vô cùng vô tận, khác với hình thái giá trị tương đối của bất kỳ hàng hóa nào khác.

Hình thái giá trị chung: Hình thái giá trị chung xuất hiện là tất yếu để khắc phục những hạn chế nói trên của hình thái giá trị mở mộng. Trong hình thái giá trị chung, tất cả các hàng hóa biểu hiện giá trị của mình ở một hàng hóa đóng vai trò vật ngang giá. Như vậy, tính chất của hính thái giá trị đã thay đổi bởi vì các hàng hóa biểu hiện giá trị của chúng một cách đơn giản và thống nhất và do vậy nó trở thành hình thái giá trị phổ biến - một hình thái giá trị như vậy sẽ được xã hội thừa nhận. SOTH: Dham Thi Vgge Shiy.

rang 5 Luda oan tét nghiép GOHD: FS. Lj Foang chuh Cũng cần phải chú ý rằng, hình thái giá trì chung người ta không trao đổi sản phẩm hàng hóa trực tiếp như ở hình thái giá trị giản đơn và hình thái giá trị mở rộng mà trao đổi một cách gián tiếp thông qua vật ngang giá chung. Vật ngang giá trong hình thái giá trị chung được chọn tuỳ theo tập quán địa phương mang ý nghĩa tượng trưng như lông thú, da thú, vỏ sò, chè khô, vòng đá (hóa tệ). Những vật này có thể trao đổi trực tiếp với nhiễu hàng hóa khác.

Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển, thị trường càng mở rộng thì càng có nhiều vật ngang giá gây khó khăn cho lưu thông trao đổi hàng hóa. Lúc này chính những vật ngang giá chung này lại đấu tranh, bài trừ và gạt bổ lẫn nhau. Vật ngang giá chung bằng kim loại thay thế dẫn vật ngang giá chung khác, và trong những vật ngang giá chung bằng kim loại thì bạc, sau đó là vàng đã chếm ưu thế tuyệt đối. Nó gạt bổ những vật ngang giá khác để “độc chiếm” vật ngang giá chung.

Chỉ đến lúc này thì hình thái giá trị tiền tệ mới được xác lập và “vàng” với tư cách là vật ngang giá chung đã trở hành tiễn tệ (kim tệ). Như vậy, tiễn tệ ra đời là kết quả của quá trình trao đổi và sự phát triển của các hình thái giá trị. Tiền tệ ra đời làm cho thế giới hàng hóa được phân làm hai cực: một phía là các hàng hóa thông thường, còn một phía là hàng hóa đặc biệt - hàng hóa tiền tệ. Tiển tệ là sản phẩn tự phát và tất yếu của nên kinh tế hàng hóa.

Tiền tệ là một phạm trù kinh tế - lịch sử gắn liển với sự phát sinh, phát triển và tổn tại của nên sản xuất và trao đổi hàng hóa. Ở đâu có tổn tại sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó sẽ có sự tổn tại của tiền tệ. Tiền tệ không chỉ là vật thể đơn thuần vô tri, vô giác, mà nó còn chứa đựng và biểu hiện một quan hệ xã hội - đó là quan hệ giữa người với người trong các chế độ xã hội còn tổn tại sản xuất và trao đổi hàng hóa. Tiền tệ nằm trong tay giai cấp nào nó sẽ phục vụ cho mục đích và quyền lợi của giai cấp đó.

BAN CHAT CUA TIEN TE: Theo quan điểm của Marx, Marx cho ring tién té 14 hang h6a béi vi trước hết tiền tệ có nguồn gốc hàng hóa. SOTH: Pham Shi Vgge Flay. Trang 6 Lugn vin t6t nghigp 90200: FS. Hoing Auk Qua xem xét sự ra đời của tiền tệ cho thấy: Do quá trình phát sinh, phát triển của sản xuất hàng hóa đã nảy sinh ra tiền tệ và tiễn tệ thực chất cũng chỉ là một loại hàng hóa, tách khỏi thế giới hàng hóa mà thôi.

Trong quá trình chọn lọc tự phát, đã có nhiều hàng hóa được chọn làm vật ngang giá, tuy nhiên, do có đầy đủ những thuộc tính tự nhiên phù hợp với vai trò này, vàng (bac) được tuyển lựa làm tiền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ